Hỡi biển cả bao la
Như câu ca thuở nào
Xin cho tôi sống lại
Những năm tháng xưa cũ
Xin cho gió còn mãi
Vang vọng tiếng cười ai.
Biển bao la biển hỡi
Làm sao tôi có thể
Mang Người về bên tôi
Khi hy vọng qua rồi
Trên dập dềnh mặt nước
Cuộn sóng lòng chơi vơi? Continue reading “Biển”→
Chỗ tớ mưa và rét lắm cậu ạ
Tớ trở về mà lòng cứ quạnh hiu
Nhớ hơi ấm từ nụ cười cậu quá
Nhớ đôi mắt dịu hiền chớp hàng mi.
Những con đường ngỡ quen chợt hóa lạ
Tên vẫn thế mà chẳng biết về đâu
Những chuyến xe theo nhịp còi hối hả
Chở tớ đi những bến vắng không tàu. Continue reading “Viết vội”→
“Nhìn kìa, bố ơi. Cô giáo bảo, mỗi khi chuông ngân là có một thiên thần vừa được ban đôi cánh.”
(Look, Daddy. Teacher says every time a bell rings, an angel gets his wings.)
Những năm gần đây, khi xem “It’s a Wonderful Life”, tôi luôn khóc lúc nghe câu nói hồn nhiên ấy của Zuzu Bailey. Thật ra, tôi đã rơm rớm nước mắt từ lúc Chú Billy cầm giỏ tiền bước vào cùng toàn bộ người dân Bedford Falls “không hề hỏi một câu, chỉ bảo: George gặp rắc rối à? Thế thì có tôi nữa”, lúc Harry Bailey trở về nhà sau khi được trao huân chương từ Tổng thống và nâng cốc nói: “cho ông anh của em, người giàu nhất thị trấn”, để rồi vỡ òa khi Zuzu nói câu đó và rồi tất cả mọi người cùng đồng thanh hát vang “Auld Lang Syne”. Thậm chí năm trước, mắt tôi đã nhòe lệ ngay từ đầu phim khi những lời cầu nguyện được cất lên: “Con nợ George Bailey tất cả mọi thứ. Hãy giúp cậu ấy, thưa Cha”, “Hỡi Thánh Joseph, Chúa Jesus và Đức Mẹ Mary, hãy giúp bạn con anh Bailey”, “Xin hãy giúp con trai con đêm nay”, “Cậu ấy chưa bao giờ nghĩ cho bản thân mình. Thế nên cậu ấy mới gặp rắc rối”, “George là người tốt. Tha cho cậu ấy đi, Chúa”, “Con yêu anh ấy, thưa Chúa. Xin hãy trông nom anh ấy đêm nay”, “Xin Người đấy, Chúa. Bố con gặp chuyện gì rồi”, “Xin hãy mang bố con về”. Và rất nhiều lần trong suốt hơn hai tiếng thời lượng bộ phim, tôi phải dừng lại để dụi khô hai mắt. Nhiều người có thể nói rằng tôi dễ dãi trong cảm xúc, rằng tôi dễ xúc động trước những điều nhỏ nhặt (chắc không đến mức như anh bạn Bloch của Proust trong “Bên phía nhà Swann” đâu). Có thể đúng, nhưng cũng xin nhớ cho tôi từng chẳng hề mảy may xúc động khi xem những bộ phim vẫn luôn được coi là lấy đi nhiều nước mắt của khán giả như “La vita è bella”, “Saving Private Ryan” hay “Schindler’s List”…
Không biết từ bao giờ, xem “It’s a Wonderful Life” đã trở thành thông lệ với tôi mỗi dịp Giáng sinh về, khi ngọn gió đã trở nên buốt lạnh và bầu trời khoác tấm áo đục ngầu tựa như muốn cô lập hết hơi ấm từ Mặt Trời lúc này đã ở xa Bắc bán cầu trong hành trình của Trái Đất, dưới mái nhà ấm áp nơi những người thương yêu luôn đón đợi tôi trở về. Tôi từng lo lắng liệu rằng xem nhiều như vậy có làm cho tình yêu của tôi với bộ phim giảm bớt đi không; liệu rằng có một ngày nào đó khi tôi đã thuộc lòng hết từng tình tiết, từng lời thoại của bộ phim, tôi sẽ không còn hứng thú với nó nữa. Có lẽ cảm xúc kia đã là câu trả lời thích đáng nhất cho băn khoăn của tôi. Có thể thấy, để đánh giá một tác phẩm điện ảnh, tiêu chí hàng đầu nên được xét đến là giá trị xem lại của nó.
Mỗi một lần xem “It’s a Wonderful Life” là một lần tôi khám phá ra được một điều mới lạ, bổ sung vào những gì tôi đã biết về bộ phim. Trên bước đường trưởng thành của tôi, nó như một người bạn dạy cho tôi những bài học lớn lao về sự cảm thông, hy sinh, niềm tin và hơn hết cả, tình yêu. Và tôi biết, mình sẽ luôn dành trọn tình cảm cho bộ phim, sẽ luôn khóc, luôn cười như một đứa trẻ trước từng hành động, lời nói, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ của các nhân vật trong phim; cũng như sẽ luôn trân trọng những điều kỳ diệu mà Giáng sinh mang lại cho tôi, ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
It’s a Wonderful Life (1946), Frank Capra. Ảnh: Paramount Pictures
Những mẩu chuyện không đầu không đuôi
ký ức là vậy, chỉ thật sự đẹp với riêng người đã trải qua chúng
“HNB xin kính chào quý khách. Quý khách đang đi trên tuyến buýt số hai bốn: LB – NTS – CG. Lộ trình vận hành: CG – ĐL – TC – MK – NK – BXLY – NK – TKD – LB.”
Giờ đây nhắm mắt lại tôi cũng có thể hình dung thấy mình đang ngồi trên hàng ghế cuối cùng của chiếc xe buýt muộn giờ đang hối hả xuất phát từ điểm đầu bến, tiếng loa thông báo vang lên trong tiếng động cơ ruỳnh ruỳnh, tiếng những chiếc tay vịn lách cách đập lên tận trần xe và những tiếng kêu huỳnh huỵch mà chiếc xe nhún nhảy phát ra khi đi qua ổ gà với tốc độ nguyên xi như đi trên đường bằng phẳng. Cái câu nói kia dần trở thành câu nói quen thuộc nhất trong ngày với tôi, thay cho câu “Con ơi, xuống ăn cơm!” của mẹ tôi ngày tôi chưa xa nhà. Năm đầu tiên ở chốn thủ đô, năm của những xê dịch, tôi đã hình thành cho mình một mối tương quan mật thiết với những chiếc xe buýt.
Cái thành phố rộng lớn này (một sự rộng lớn mà tôi vẫn chưa hoàn toàn tâm phục khẩu phục) được tôi thu nhỏ lại bằng việc gọi tên điểm đầu, điểm cuối hay các tuyến đường mà những chiếc xe đi qua. Ở đây có thể lên xe này, đến kia lại bắt được xe đó, xe này tiếp nối xe kia ở những điểm này điểm kia… Mọi ngả đường của cái thành phố xa lạ này đều được kết nối với nhau thông qua hệ thống xe buýt. Tôi mang số những chuyến xe đánh cho những phố dài, mang tên của những bến dừng đánh cho những địa danh. Và tôi mang cả những chiếc xe vô tri vô giác đánh cho những mốc thời gian xê dịch trong một năm rất nhiều biến cố của mình. Continue reading “Buýt 24”→
Chuyến xe vắng những hàng ghế trống không
Có tiếng nói đưa tôi vào giấc mộng
Mơ gặp mẹ, mơ gặp bố, gặp em
Rộng vòng tay đón tôi về âu yếm. Continue reading “Gật gù”→
Và thế rồi những ngày hè đằng đẵng
Đêm nằm dài nghe gió thổi miên man
Cơn mưa rào lau không gian quang đãng
Ngắm bầu trời kể chuyện những vì sao,
Lên con tàu đi tới hành tinh lạ
Nghe âm vang hơi thở của Đại Dương
Khát vọng gì ngoài vũ trụ bao la
Khi trong tim còn trăm ngả vô hướng? Continue reading “Buýt 45”→
“ta ngồi trên bến, con tàu trắng sông rộng mây mờ chân núi xanh như một người quen xa vắng mãi anh ngỡ quên, thu bỗng trở về”
(Thu, Lưu Quang Vũ)
Thu của tôi chưa bao giờ có lá vàng. Tôi vẫn luôn ngỡ ngàng khi thấy các thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, các nhà làm phim, các nhiếp ảnh gia,… có thể sáng tạo nên những khung cảnh thu ngập tràn lá vàng tươi phủ kín những con đường, những cánh rừng hay đôi bờ sông đến như thế. Thu của tôi họa chăng chỉ có vài chiếc lá úa nằm cong queo bên vệ đường, có thứ nắng vàng giòn, thứ gió se se lạnh thổi trong mỗi buổi chiều muộn đạp xe trên đường về nhà. Cái nắng của thu không sáng bừng như cái nắng hạ; và trong tâm tưởng tôi, hạ mang màu xanh lam của cây lá điểm xuyết màu trắng của bầu trời nhìn qua những tán cây, còn thu mang một màu vàng ươm, chỉ của nắng thôi; đó không nhất thiết (và cũng chẳng phải) là màu của đất trời, đó đơn giản là những thứ nhãn dán mà tôi gắn cho các mùa để xếp vào trong suy tưởng của mình, mỗi mùa một màu, và vì thế, một vẻ.
Tôi từng không tin vào thu; khi còn học phổ thông tôi đã từng viết những câu như thế này (mà phải thú thực là giờ khi lục tìm lại tôi phải ôm bụng cười lúc đọc đến dòng cuối cùng)
“Cái lạnh đầu mùa nỡ vội vàng? Chút mây, chút gió vẫn miên man Phai dần tia nắng kêu đông tới Lất phất giọt mưa đuổi hạ tan Buổi sớm đen thui như đổ mực Hoàng hôn rực đỏ tựa tàn than Đạp xe đường phố chiều hôm muộn Không bạc, chẳng tiền cũng thật sang!”
trong một ngày trở gió cuối thu trên đường đi học về. Chỉ có hạ và đông, thu tuyệt nhiên không tồn tại trong thế giới quan của tôi ngày ấy. Không phải tôi không biết đến thu, nhưng tôi không cho nó là một phần của khí hậu, của trời đất, của vạn vật. Xuân cũng vậy. Những mùa chuyển tiếp ngày trước với tôi luôn chỉ có trong sách vở và báo đài. Cái sự nhận thức rằng thu và xuân sẽ khoác tấm áo mới cho thiên nhiên khi mà nắng không còn trắng và sớm không còn đen nữa mới đây đã đến với tôi, nhưng không phải từ những quan sát về những biến chuyển hết sức nhỏ nhẹ, tinh tế của hoa cỏ, nắng mưa, mà đến từ những câu chuyện, luôn là vậy.
Tôi một mình trong cơn giông xám xịt
Khi tà dương khuất bóng mây mù giăng
Gió thét gào trên vực thẳm da diết
Gọi mưa về trong tiếng sấm rền vang. Continue reading “Phù thảo”→