Những cánh cửa toa tàu khép lại
Tiếng mưa rơi ngớt dần trên mái
Em gái nhỏ dưới sân ga đứng lặng
Vẫy tay chào qua ô kính nhòe nước
Đôi mắt trong mở chân trời mơ ước
Khuất xa dần sau những tiếng còi vang.
Author: blackmagician
Yêu từ cái nhìn thứ hai
“Bây giờ tôi không còn tin vào cái cụm từ ‘yêu từ cái nhìn đầu tiên’ nữa rồi.”
Câu nói này của bạn tôi hôm nay bỗng làm tôi giật mình. Ngay lập tức tôi lần lượt rà soát lại những tình yêu lớn của đời mình để xác nhận mức độ chính xác của ý kiến đó. Và quả thực, bạn tôi không hẳn là sai.
Trong những cái nhìn đầu tiên hớp hồn ấy, tôi chưa bao giờ biết đó là tình yêu. Ozu “tấn công” tôi bằng Tokyo Story, Ford “quyến rũ” tôi bằng The Searchers. Hai bộ phim bao lâu nay vẫn khiến giới mộ điệu nức nở lẽ dĩ nhiên không khỏi làm tôi xiêu lòng, thế nhưng đến nay tôi chưa một lần nào nghiêm túc xem lại chúng. Tôi thật sự say đắm trước Ozu bắt đầu từ Late Spring, còn Ford chính thức làm tôi mê mệt kể từ The Man Who Shot Liberty Valance, đều ở lần tiếp xúc sau đó. Thế rồi, những An Autumn Afternoon, Early Summer, There Was a Father, The Only Son, Late Autumn, Good Morning, Early Spring, Brothers and Sisters of the Toda Family, v.v…, những The Quiet Man, How Green Was My Valley, Fort Apache, My Darling Clementine, Young Mr. Lincoln, Two Rode Together, Steamboat Round the Bend, Donovan’s Reef, Doctor Bull, v.v… ồ ạt tới khiến cho ánh mắt đầu tiên kia trở nên thật mờ nhạt. Điều tương tự cũng xảy đến với tôi ở trường hợp của Jacques Demy trong Les Parapluies de Cherbourg hay Lưu Quang Vũ trong Tiếng Việt. Dickens, và một người nữa, có lẽ là những lần hiếm hoi chiếc đũa phép nhiệm màu có thể phe phẩy những hạt bụi tiên lên tôi; nhưng đó lại là một câu chuyện khác.
Đúng thật, tôi chẳng mấy khi yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Chiều thu qua ô cửa

tặng V.A
Nào ông chén tiếp tôi mời
Bao nhiêu rượu đó mà lời có ra
Giờ tôi mới thấy ngà ngà
Thu vương giọt nắng la đà khóm cây
Ngoài sân lá úa rơi đầy
Nhìn qua ô cửa đó đây muộn sầu
Uống cho vơi vợi niềm đau
Uống cho quên hết những câu quặn lòng.
How Green Was My Valley — Xanh biết bao một thuở đã qua
Năm 1967, khi đã có trong tay rất nhiều tác phẩm viết nên định nghĩa sau này của môn nghệ thuật thứ bảy, Orson Welles, trong một lần được nhà phê bình người Anh Kenneth Tynan hỏi về các đạo diễn người Mỹ đương thời, đã nói:
“Stanley Kubrick và Richard Lester là những người duy nhất khiến tôi hứng thú—trừ các bậc lão làng. Ý tôi đó là John Ford, John Ford và John Ford. […] Ford ở đỉnh cao của mình cho ta cảm giác rằng bộ phim có sức sống và hơi thở trong thế giới thực, dù kịch bản có thể được viết bởi Mother Machree.”1
Welles đã chỉ tên rất chính xác một trong những đạo diễn lớn nhất của thập niên ’60 giờ đã gần như bị lãng quên trên bản đồ điện ảnh thế giới: Richard Lester. Trái ngược lại, John Ford, nhà làm phim được tất thảy những người đồng nghiệp cũng như giới hâm mộ điện ảnh kính trọng, một lần nữa khẳng định chắc nịch vị trí cao ngút của mình nhờ những lời tán dương từ Welles. Một cái tôi quá lớn như Welles, người sẵn sàng gọi Michelangelo Antonioni là “cha đẻ và người đi tiên phong” trong công cuộc khám phá “buồn tẻ” như một đề tài nghệ thuật, Federico Fellini là một đạo diễn “tỉnh lẻ”, hay cho rằng Thụy Điển của Ingmar Bergman, giống như Henry James nói về Na Uy của Ibsen, ngập “một mùi nến tôn giáo”2; Welles, người bị kinh đô điện ảnh quay lưng trong suốt sự nghiệp của mình như hoàng tử Hal đã làm với Falstaff trong tác phẩm cùng tên năm ấy của ông, dành một niềm ngưỡng mộ đặc biệt đối với nhân vật đứng đầu danh sách những con người nắm giữ kỷ lục về giải thưởng cũng như sự tung hô của Hollywood. Điều đó cho thấy rằng đây là sự nhìn nhận hết sức giá trị. Trên thực tế, Welles cũng là một trong những người đầu tiên thật sự trân trọng giá trị nghệ thuật thuần khiết nhất trong những tác phẩm của Ford, và khẳng định tầm cỡ của ông trong việc truyền cảm hứng cho sự phát triển của điện ảnh.
Continue reading “How Green Was My Valley — Xanh biết bao một thuở đã qua”
Một góc thế giới của Jacques Demy
Có ba người Pháp tôi thật sự ngưỡng mộ và dành cho hai chữ “thiên tài”, những ông hoàng của lòng tôi: Jean Renoir, Jacques Tati, và Jacques Demy (hai người cùng tên Jacques; rất có thể sẽ còn một Jacques nữa, một Jacques mà ở thời điểm hiện tại, và có lẽ còn rất lâu lâu nữa, tôi vẫn muốn giữ khoảng cách: Jacques Rivette).
Ở một hành tinh khác nơi mà người ta coi thiên tài là người làm ra những thứ người bình thường phải vắt óc ra mới hiểu hết thì Robert Bresson sẽ là người đầu tiên tôi nghĩ đến. (Tại sao không có Godard? Vì tôi miễn nhiễm với mọi sự đoán định về Godard. Tôi thích Godard, nhưng sự thích ấy xuất phát từ khát khao không hiểu Godard.) Và Jacques Demy hẳn nhiên vẫn sẽ có tên trong đó, bởi những gì Demy làm, tôi cứ tưởng mình hiểu, nhưng thật ra tôi chẳng hiểu được bao nhiêu. Nhưng thôi, tôi thích ở nguyên trên hành tinh của mình hơn.
Cho những đêm không ngủ
Tháng Tư
Trong dòng những biến đổi, tôi muốn nắm bắt hết, những vươn mình thức giấc, những phai nhạt, lãng quên.
Trong dòng những chuyển động, tôi muốn ghi chép hết, những gặp gỡ, chia tay, những hội ngộ, ly biệt.
Trong dòng những bất động, tôi muốn vẽ lại hết, bầu trời đêm không một vì sao xa, phố tĩnh mịch không một ánh điện đường.
Trong dòng những lạc lối, tôi muốn đánh dấu hết, những ngã tư trước mặt hằng lưỡng lự, những giao lộ sau lưng hằng lao đao.
Trong tháng Tư của những ngày tuổi trẻ, tôi gửi lại một phần của tôi, nơi vui tươi tôi dành cho những người, trân trọng tôi dành cho những vật, tiếc nuối tôi dành cho những kỷ niệm đã chẳng còn thân thương.
Tháng Tư ấy, tôi những muốn kể lại, nhưng không phải bằng lời, cũng không phải bằng chữ, lại càng không phải bằng những láo nháo lác nhác phác thảo hay lủng củng lỉnh kỉnh ký họa.
À, thế rồi tôi nhận ra, tất cả những gì tôi cần làm chỉ là nhắm mắt lại… Continue reading “Tháng Tư”
Nước dâng miệng ngựa
Sứ mệnh lớn nhất của khoa học là gì? Hiển nhiên đó là khai sáng. Còn sứ mệnh lớn nhất của nghệ thuật là gì? Tôi cho rằng đó là tiên tri. Nhà tiên tri vĩ đại nhất của tôi, không ai khác, chính là George Harrison. Continue reading “Nước dâng miệng ngựa”
Như một thằng ngốc
Không thể nghi ngờ gì được, điện ảnh là hình thức nghệ thuật quyền lực nhất. Nó có thể, cùng một lúc, bao gồm cả văn chương, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, nhiếp ảnh, lại vừa có thể tách riêng ra và có sức sống mạnh mẽ mà không cần đến bất kỳ thứ nào bổ trợ. Tất nhiên, quyền lực chỉ có ý nghĩa khi nằm trong tay những con người kiệt xuất. Chính vì thế mà những hình thức nghệ thuật khác không bao giờ mất đi chỗ đứng và điện ảnh cũng chưa bao giờ chiếm thế thượng phong. Mà dù sao nói đi cũng phải nói lại, điện ảnh đôi khi tồn tại được cũng là nhờ những thứ kia (và đổi lại, đôi khi, dù ít hơn, những thứ kia tồn tại được lại là nhờ điện ảnh).
Nhưng thôi, ta hãy để vấn đề ấy cho các nhà nghiên cứu, lý luận, các vị nghệ sĩ, hay cả những vị chẳng phải là ai trong số đó, muốn khẩu chiến (hoặc bút chiến) với nhau. Tôi sẽ ca ngợi điện ảnh từ góc độ một người thưởng thức không chuyên, dựa trên những hiểu biết nghèo nàn của tôi về những bộ phim và những người làm ra chúng. Continue reading “Như một thằng ngốc”
Cơn mơ
Cơn mơ sang đem cho tôi giấc mộng
Thiếp đi rồi cả cuộc sống trổ đơm
Đưa tôi đi trong chiều hôm khói đượm
Gọi tôi về bên bếp bà thổi cơm.

