“Wasn’t I lucky to be born in my favorite city?” – Tootie, Meet Me in St. Louis
Khu phố Bourse – Esplanade – Krutenau của Strasbourg trong cảm tưởng của tôi là cả một châu Âu thu nhỏ. Rất nhiều những con phố hay quảng trường ở đây được đặt theo tên những thành phố nổi tiếng của Lục địa già: rue de Stuttgart, rue d’Istanbul, rue d’Ankara, place d’Athènes, rue d’Oslo, rue de Stockholm, rue de Genève, rue de Berne, rue de Lausanne, rue de Lucerne, rue/place de Zurich, rue de Milan, rue de Rome, v.v… Gắn với đó đôi khi là những bến dừng xe buýt mang độc cái tên của các thành phố ấy: Ankara, Zurich, Rome, hay đặc biệt là Palerme – nơi tôi vẫn thường khởi hành những cuộc lang thang không đích đến của mình – khiến người ta dễ có cảm giác như chỉ cần bước xuống xe buýt hoặc tram là đã đặt chân đến Đức, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp hay Thụy Sĩ. Tất nhiên không chỉ có tên các thành phố: quai des Alpes, route du Rhin hay quartier Danube là những ví dụ điển hình của việc núi và sông ở Tây (và Đông) Âu cũng có thể trở thành những địa danh ở nơi đây. Strasbourg không phải thành phố duy nhất làm điều này, nhưng trong một khu vực địa lý không quá lớn, những cái tên ấy vẫn xuất hiện một cách dày đặc, thậm chí nối liền nhau dọc các trục đường; rõ ràng đó không phải một sự ngẫu nhiên. Phải chăng, ngoài một vài đặc quyền chính trị, vì lẽ đó nữa mà Strasbourg thường kiêu kỳ mang cho mình danh xưng capitale européenne?
Không thể nghi ngờ gì được, điện ảnh là hình thức nghệ thuật quyền lực nhất. Nó có thể, cùng một lúc, bao gồm cả văn chương, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, nhiếp ảnh, lại vừa có thể tách riêng ra và có sức sống mạnh mẽ mà không cần đến bất kỳ thứ nào bổ trợ. Tất nhiên, quyền lực chỉ có ý nghĩa khi nằm trong tay những con người kiệt xuất. Chính vì thế mà những hình thức nghệ thuật khác không bao giờ mất đi chỗ đứng và điện ảnh cũng chưa bao giờ chiếm thế thượng phong. Mà dù sao nói đi cũng phải nói lại, điện ảnh đôi khi tồn tại được cũng là nhờ những thứ kia (và đổi lại, đôi khi, dù ít hơn, những thứ kia tồn tại được lại là nhờ điện ảnh).
Nhưng thôi, ta hãy để vấn đề ấy cho các nhà nghiên cứu, lý luận, các vị nghệ sĩ, hay cả những vị chẳng phải là ai trong số đó, muốn khẩu chiến (hoặc bút chiến) với nhau. Tôi sẽ ca ngợi điện ảnh từ góc độ một người thưởng thức không chuyên, dựa trên những hiểu biết nghèo nàn của tôi về những bộ phim và những người làm ra chúng. Continue reading “Như một thằng ngốc”→
“Nhìn kìa, bố ơi. Cô giáo bảo, mỗi khi chuông ngân là có một thiên thần vừa được ban đôi cánh.”
(Look, Daddy. Teacher says every time a bell rings, an angel gets his wings.)
Những năm gần đây, khi xem “It’s a Wonderful Life”, tôi luôn khóc lúc nghe câu nói hồn nhiên ấy của Zuzu Bailey. Thật ra, tôi đã rơm rớm nước mắt từ lúc Chú Billy cầm giỏ tiền bước vào cùng toàn bộ người dân Bedford Falls “không hề hỏi một câu, chỉ bảo: George gặp rắc rối à? Thế thì có tôi nữa”, lúc Harry Bailey trở về nhà sau khi được trao huân chương từ Tổng thống và nâng cốc nói: “cho ông anh của em, người giàu nhất thị trấn”, để rồi vỡ òa khi Zuzu nói câu đó và rồi tất cả mọi người cùng đồng thanh hát vang “Auld Lang Syne”. Thậm chí năm trước, mắt tôi đã nhòe lệ ngay từ đầu phim khi những lời cầu nguyện được cất lên: “Con nợ George Bailey tất cả mọi thứ. Hãy giúp cậu ấy, thưa Cha”, “Hỡi Thánh Joseph, Chúa Jesus và Đức Mẹ Mary, hãy giúp bạn con anh Bailey”, “Xin hãy giúp con trai con đêm nay”, “Cậu ấy chưa bao giờ nghĩ cho bản thân mình. Thế nên cậu ấy mới gặp rắc rối”, “George là người tốt. Tha cho cậu ấy đi, Chúa”, “Con yêu anh ấy, thưa Chúa. Xin hãy trông nom anh ấy đêm nay”, “Xin Người đấy, Chúa. Bố con gặp chuyện gì rồi”, “Xin hãy mang bố con về”. Và rất nhiều lần trong suốt hơn hai tiếng thời lượng bộ phim, tôi phải dừng lại để dụi khô hai mắt. Nhiều người có thể nói rằng tôi dễ dãi trong cảm xúc, rằng tôi dễ xúc động trước những điều nhỏ nhặt (chắc không đến mức như anh bạn Bloch của Proust trong “Bên phía nhà Swann” đâu). Có thể đúng, nhưng cũng xin nhớ cho tôi từng chẳng hề mảy may xúc động khi xem những bộ phim vẫn luôn được coi là lấy đi nhiều nước mắt của khán giả như “La vita è bella”, “Saving Private Ryan” hay “Schindler’s List”…
Không biết từ bao giờ, xem “It’s a Wonderful Life” đã trở thành thông lệ với tôi mỗi dịp Giáng sinh về, khi ngọn gió đã trở nên buốt lạnh và bầu trời khoác tấm áo đục ngầu tựa như muốn cô lập hết hơi ấm từ Mặt Trời lúc này đã ở xa Bắc bán cầu trong hành trình của Trái Đất, dưới mái nhà ấm áp nơi những người thương yêu luôn đón đợi tôi trở về. Tôi từng lo lắng liệu rằng xem nhiều như vậy có làm cho tình yêu của tôi với bộ phim giảm bớt đi không; liệu rằng có một ngày nào đó khi tôi đã thuộc lòng hết từng tình tiết, từng lời thoại của bộ phim, tôi sẽ không còn hứng thú với nó nữa. Có lẽ cảm xúc kia đã là câu trả lời thích đáng nhất cho băn khoăn của tôi. Có thể thấy, để đánh giá một tác phẩm điện ảnh, tiêu chí hàng đầu nên được xét đến là giá trị xem lại của nó.
Mỗi một lần xem “It’s a Wonderful Life” là một lần tôi khám phá ra được một điều mới lạ, bổ sung vào những gì tôi đã biết về bộ phim. Trên bước đường trưởng thành của tôi, nó như một người bạn dạy cho tôi những bài học lớn lao về sự cảm thông, hy sinh, niềm tin và hơn hết cả, tình yêu. Và tôi biết, mình sẽ luôn dành trọn tình cảm cho bộ phim, sẽ luôn khóc, luôn cười như một đứa trẻ trước từng hành động, lời nói, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ của các nhân vật trong phim; cũng như sẽ luôn trân trọng những điều kỳ diệu mà Giáng sinh mang lại cho tôi, ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
It’s a Wonderful Life (1946), Frank Capra. Ảnh: Paramount Pictures
Những mẩu chuyện không đầu không đuôi
ký ức là vậy, chỉ thật sự đẹp với riêng người đã trải qua chúng
“HNB xin kính chào quý khách. Quý khách đang đi trên tuyến buýt số hai bốn: LB – NTS – CG. Lộ trình vận hành: CG – ĐL – TC – MK – NK – BXLY – NK – TKD – LB.”
Giờ đây nhắm mắt lại tôi cũng có thể hình dung thấy mình đang ngồi trên hàng ghế cuối cùng của chiếc xe buýt muộn giờ đang hối hả xuất phát từ điểm đầu bến, tiếng loa thông báo vang lên trong tiếng động cơ ruỳnh ruỳnh, tiếng những chiếc tay vịn lách cách đập lên tận trần xe và những tiếng kêu huỳnh huỵch mà chiếc xe nhún nhảy phát ra khi đi qua ổ gà với tốc độ nguyên xi như đi trên đường bằng phẳng. Cái câu nói kia dần trở thành câu nói quen thuộc nhất trong ngày với tôi, thay cho câu “Con ơi, xuống ăn cơm!” của mẹ tôi ngày tôi chưa xa nhà. Năm đầu tiên ở chốn thủ đô, năm của những xê dịch, tôi đã hình thành cho mình một mối tương quan mật thiết với những chiếc xe buýt.
Cái thành phố rộng lớn này (một sự rộng lớn mà tôi vẫn chưa hoàn toàn tâm phục khẩu phục) được tôi thu nhỏ lại bằng việc gọi tên điểm đầu, điểm cuối hay các tuyến đường mà những chiếc xe đi qua. Ở đây có thể lên xe này, đến kia lại bắt được xe đó, xe này tiếp nối xe kia ở những điểm này điểm kia… Mọi ngả đường của cái thành phố xa lạ này đều được kết nối với nhau thông qua hệ thống xe buýt. Tôi mang số những chuyến xe đánh cho những phố dài, mang tên của những bến dừng đánh cho những địa danh. Và tôi mang cả những chiếc xe vô tri vô giác đánh cho những mốc thời gian xê dịch trong một năm rất nhiều biến cố của mình. Continue reading “Buýt 24”→
Năm nay trường thi học kỳ rõ muộn, thế là Giáng sinh của mình tưởng như đi toong. Cũng phải nói thêm đây là một ngày lễ rất đặc biệt với mình, dù cho ở Việt Nam nó không mang nặng tính truyền thống như các nước phương Tây. Trong ngày này mình thường không thích ra ngoài đi chơi cho lắm, mà thường ngồi nhà nghe nhạc, đọc sách, xem phim. Những bài ca Giáng sinh, những trang sách ố vàng hay những bộ phim tươi vui, truyền cảm hứng cho một năm mới nhiều hy vọng… là những giá trị tinh thần sưởi ấm trái tim mình hơn cả bao bước chân hòa vào dòng người xô bồ, náo nhiệt nơi các cửa hàng, khu vui chơi rực sáng ánh đèn trong đêm lễ thánh. Năm nay, những thứ đó một lần nữa lại trở thành vị cứu tinh cho con tim chai sạn của mình.Continue reading “Giáng sinh muộn”→