Giáng sinh sớm

“Nhìn kìa, bố ơi. Cô giáo bảo, mỗi khi chuông ngân là có một thiên thần vừa được ban đôi cánh.”
(Look, Daddy. Teacher says every time a bell rings, an angel gets his wings.)

Những năm gần đây, khi xem “It’s a Wonderful Life”, tôi luôn khóc lúc nghe câu nói hồn nhiên ấy của Zuzu Bailey. Thật ra, tôi đã rơm rớm nước mắt từ lúc Chú Billy cầm giỏ tiền bước vào cùng toàn bộ người dân Bedford Falls “không hề hỏi một câu, chỉ bảo: George gặp rắc rối à? Thế thì có tôi nữa”, lúc Harry Bailey trở về nhà sau khi được trao huân chương từ Tổng thống và nâng cốc nói: “cho ông anh của em, người giàu nhất thị trấn”, để rồi vỡ òa khi Zuzu nói câu đó và rồi tất cả mọi người cùng đồng thanh hát vang “Auld Lang Syne”. Thậm chí năm trước, mắt tôi đã nhòe lệ ngay từ đầu phim khi những lời cầu nguyện được cất lên: “Con nợ George Bailey tất cả mọi thứ. Hãy giúp cậu ấy, thưa Cha”, “Hỡi Thánh Joseph, Chúa Jesus và Đức Mẹ Mary, hãy giúp bạn con anh Bailey”, “Xin hãy giúp con trai con đêm nay”, “Cậu ấy chưa bao giờ nghĩ cho bản thân mình. Thế nên cậu ấy mới gặp rắc rối”, “George là người tốt. Tha cho cậu ấy đi, Chúa”, “Con yêu anh ấy, thưa Chúa. Xin hãy trông nom anh ấy đêm nay”, “Xin Người đấy, Chúa. Bố con gặp chuyện gì rồi”, “Xin hãy mang bố con về”. Và rất nhiều lần trong suốt hơn hai tiếng thời lượng bộ phim, tôi phải dừng lại để dụi khô hai mắt. Nhiều người có thể nói rằng tôi dễ dãi trong cảm xúc, rằng tôi dễ xúc động trước những điều nhỏ nhặt (chắc không đến mức như anh bạn Bloch của Proust trong “Bên phía nhà Swann” đâu). Có thể đúng, nhưng cũng xin nhớ cho tôi từng chẳng hề mảy may xúc động khi xem những bộ phim vẫn luôn được coi là lấy đi nhiều nước mắt của khán giả như “La vita è bella”, “Saving Private Ryan” hay “Schindler’s List”…

Không biết từ bao giờ, xem “It’s a Wonderful Life” đã trở thành thông lệ với tôi mỗi dịp Giáng sinh về, khi ngọn gió đã trở nên buốt lạnh và bầu trời khoác tấm áo đục ngầu tựa như muốn cô lập hết hơi ấm từ Mặt Trời lúc này đã ở xa Bắc bán cầu trong hành trình của Trái Đất, dưới mái nhà ấm áp nơi những người thương yêu luôn đón đợi tôi trở về. Tôi từng lo lắng liệu rằng xem nhiều như vậy có làm cho tình yêu của tôi với bộ phim giảm bớt đi không; liệu rằng có một ngày nào đó khi tôi đã thuộc lòng hết từng tình tiết, từng lời thoại của bộ phim, tôi sẽ không còn hứng thú với nó nữa. Có lẽ cảm xúc kia đã là câu trả lời thích đáng nhất cho băn khoăn của tôi. Có thể thấy, để đánh giá một tác phẩm điện ảnh, tiêu chí hàng đầu nên được xét đến là giá trị xem lại của nó.
Mỗi một lần xem “It’s a Wonderful Life” là một lần tôi khám phá ra được một điều mới lạ, bổ sung vào những gì tôi đã biết về bộ phim. Trên bước đường trưởng thành của tôi, nó như một người bạn dạy cho tôi những bài học lớn lao về sự cảm thông, hy sinh, niềm tin và hơn hết cả, tình yêu. Và tôi biết, mình sẽ luôn dành trọn tình cảm cho bộ phim, sẽ luôn khóc, luôn cười như một đứa trẻ trước từng hành động, lời nói, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ của các nhân vật trong phim; cũng như sẽ luôn trân trọng những điều kỳ diệu mà Giáng sinh mang lại cho tôi, ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

01
It’s a Wonderful Life (1946), Frank Capra. Ảnh: Paramount Pictures

***

Tôi không phải là một người sính ngoại, và tôi cũng không quá ưa chuộng các giá trị văn hóa nước ngoài. Thậm chí tôi rất yêu những nét truyền thống trong văn hóa nước ta, đồng thời kịch liệt phản đối những kẻ có ý định thay đổi hay xóa bỏ chúng. Tuy nhiên, Giáng sinh có lẽ là một ngoại lệ, khi nhìn từ bên ngoài. Ở nước ta, đây là một dịp để tụ tập, vui chơi, hội hè; tôi không quá ác cảm với điều đó, chỉ là nó không phải ý nghĩa thực sự của ngày lễ này. Nếu trí nhớ và hiểu biết của tôi không sai lệch với thực tế thì Giáng sinh là dịp lễ của các tín đồ Cơ Đốc, và là một ngày lễ chính thức ở các nước phương Tây. Nó có nguồn gốc tôn giáo, và xoay quanh nó có rất nhiều sự tích, nhiều câu chuyện về đức Chúa, về thánh Nicholas (thường được biết đến với tên gọi Ông già Tuyết) cùng nhiều thứ biểu tượng khác. Càng tìm hiểu về chúng, ta càng thấy nổi bật lên trên tất cả, hơn hết thảy ý nghĩa tôn giáo và văn hóa, là tình yêu thương. Nó xóa nhòa mọi biên giới về đạo giáo, về phong tục, biến Giáng sinh trở thành một ngày lễ đáng được tôn vinh trong lòng tất cả mọi người trên thế giới. Đây là dịp để gia đình, bè bạn, người thân sum họp, quây quần bên nhau sau một năm dài, trao cho nhau tình cảm nồng thắm và cùng ôn lại những gì đã qua. Điều đó giá trị hơn những gì người dân ta vẫn đang nhìn nhận về Giáng sinh. Và ta thấy nhiều điểm tương đồng với ngày Tết Âm lịch trong văn hóa của ta. Với một người con xa nhà như tôi, càng ngày tôi càng nhận ra ý nghĩa lớn lao của ngày Tết cổ truyền, khi đây là dịp duy nhất trong năm tôi có thể dành nhiều thời gian bên gia đình. Tuy nhiên, Giáng sinh vẫn có vị trí đặc biệt trong tôi, không gì có thể sánh bằng, dù cho sự trưởng thành có reo giắc vào tôi bao đổi thay trong suy nghĩ hay nhận thức đi chăng nữa.

***

Nhưng thứ gì khiến tôi yêu quý Giáng sinh đến vậy? Đây không phải là một câu hỏi dễ giải đáp; cắt nghĩa tình yêu luôn là thế mà. Chắc tôi sẽ phải trở lại những năm tháng thiếu thời của tôi, giống như Linh hồn của Giáng sinh Dĩ vãng đưa Scrooge trở lại Giáng sinh thuở ấu thơ trong câu chuyện kinh điển của Charles Dickens vậy. Năm lớp Bảy – năm mà suy nghĩ của tôi có một sự xoay chuyển quá lớn, gần như dội ngược tôi lại trong quá trình hình thành nhận thức – tôi được biết đến Giáng sinh, không phải lần đầu tiên, nhưng cụ thể và in hằn sâu nhất. Đó là những ngày mùa đông, khi buồn rầu chia tách tôi khỏi mọi người xung quanh, bạn bè ở lớp và bố mẹ ở nhà, niềm hạnh phúc duy nhất của tôi là được đi trên đường ngắm nhìn những cửa hiệu, hàng quán. Cùng lúc, tôi dần dành tình cảm cho những người bạn nhỏ ở một lớp học khác, và một cô giáo đáng mến giờ vẫn còn để lại trong tôi niềm kính phục. Khi Giáng sinh đến, những hình dán trên cửa kính hay đồ trang trí ở các cửa hiệu (người tuyết, cây thông, vòng hoa, chuông Giáng sinh, Ông già Tuyết) đặc biệt thu hút sự chú ý của tôi. Trong số đó có hai khách sạn cùng một tòa nhà mà về sau tôi vẫn luôn ngoái vào mỗi khi đi qua, và hai cửa hàng giờ đã không còn nữa rồi. Những người bạn nhỏ ở lớp học kia là những người tôi nghĩ về nhiều nhất trong dịp lễ này. Lúc ấy tôi cũng muốn được làm trẻ con như chúng, được mang trong mình những suy nghĩ thơ ngây, không chút lo âu, vướng bận, được rong ruổi với những ước mơ trong sáng và những tình cảm thuần khiết. Kể cả đến giờ, khi đã trải qua nhiều khó khăn và thử thách của cuộc sống, ước mong ấy vẫn còn vẹn nguyên trong tôi, như chú bé Oliver Twist dù rơi vào bao nhiêu hoàn cảnh ngặt nghèo vẫn ngời sáng lên tâm hồn lương thiện, yêu thương con người. Khi ấy, tôi nhận ra, tôi bắt đầu quên đi những muộn phiền trước đó, nhờ Giáng sinh, người bạn vô hình đang tới rất gần với tôi.

Người tiếp theo truyền cảm hứng cho tôi về ngày lễ này là cô giáo Tiếng Anh thời cấp Hai của tôi. Dĩ nhiên, một giáo viên ngoại ngữ sẽ là người có cơ hội tiếp xúc nhiều nhất với văn hóa nước ngoài, trong trường hợp của cô thì là hai đất nước Anh và Mỹ. Cũng trong năm lớp Bảy ấy, ở trên lớp, giờ Tiếng Anh gần như là giờ học duy nhất còn khơi gợi cho tôi sự thích thú, phần vì cô là người quan tâm đến tôi nhất khi đó, phần vì học ngoại ngữ là học về một nền văn hóa khác, một đất nước, một xứ sở khác, thứ có thể đưa tôi thoát khỏi thực tại nhàm chán xung quanh. Giáng sinh năm đó, cô cho lớp tôi điền lời bài hát “Jingle Bells” (tôi còn nhớ trong buổi học ấy mình đã nói một câu hết sức vô duyên), nghe “Feliz Navidad”, và bắt đầu cơ duyên của tôi với những bài ca Giáng sinh. Trong suốt mấy ngày trước Giáng sinh, tôi nghe đi nghe lại không chán “Feliz Navidad”, phiên bản của Boney M.. Đêm Giáng sinh, tôi tìm nghe album “The 20 Greatest Christmas Songs” của họ. Ở nước ta, giống như ABBA, Boney M. là nhóm nhạc disco khá nổi tiếng với thế hệ sống ở thập niên ’80. Còn bản thân tôi, thú thực ngoài album kia ra, tôi không hề biết đến họ. Đây là một album nhạc tương đối phổ biến của Boney M., nhưng nguyên nhân tôi biết đến nó chỉ là có rất nhiều bài ca Giáng sinh nổi tiếng trong đó (đặc biệt là “Jingle Bells”, “Feliz Navidad”, và “Auld Lang Syne” – sau này cũng được cô nhắc đến như bài hát người phương Tây nghe nhiều nhất vào dịp Năm mới). Những năm về sau, sự kính trọng của tôi với cô giáo ấy ngày một giảm đi (hoàn toàn do bản tính ương bướng, ngang ngạnh của tôi), nhưng những ký ức của tôi về cô, về mùa Giáng sinh đầu tiên ghi dấu trong tôi vẫn long lanh như buổi ban đầu. Và tôi mang ơn cô, vì đã đem đến cho tôi những năm tháng tươi đẹp nhất trong quãng thời gian ngồi trên ghế nhà trường.

Dẫu cho không được xếp vào hàng những bài ca Giáng sinh truyền thống (được gọi riêng bằng cái tên “Christmas Carols”), “Feliz Navidad” là nhạc phẩm đầu tiên tôi nghĩ về khi nhắc tới Giáng sinh. Ngay từ lần đầu tiên nghe nó trên chiếc đài cát-sét mà cô vẫn hay cho phát những bài tập nghe tiếng Anh (trước giờ tôi chưa hề biết tên người ca sĩ đã trình bày phiên bản đó), giai điệu của nó đã lảng vảng trong đầu tôi không dứt. Giáng sinh một năm sau, tôi tình cờ được xem màn biểu diễn của vị nhạc sĩ đã sáng tác nên bài hát – José Feliciano. Ấn tượng đầu tiên của tôi về màn trình diễn này đó là ngồi trên sân khấu là một người ca sĩ già, tóc đã bạc, đeo kính đen có lẽ để che đi đôi mắt mù, giọng hát đã phần nào chịu nhiều ảnh hưởng của tuổi tác (thậm chí ông còn ho một lần trong lúc chuyển câu hát), nhưng những lời ca vẫn rất nồng nhiệt như thể chúng cất lên từ chính trái tim ông vậy. Thế rồi, tôi để ý dù bài hát tương đối dài nhưng phần lời chỉ là những câu chúc Giáng sinh và Năm mới truyền thống bằng cả tiếng Tây Ban Nha lẫn tiếng Anh được lặp đi lặp lại dưới giai điệu Tây Ban Cầm mộc mang chút phong vị flamenco (gợi tôi nhớ tới thầy giáo dạy đàn của tôi, người từng chơi thử một đoạn flamenco khiến tôi mê ly và hứa một ngày nào đó tôi cũng sẽ được tập chơi, nhưng…) cùng âm thanh thứ nhạc cụ dân gian Puerto Rico cuatro thể hiện bởi chính José Feliciano.
Giữa vô vàn những bài ca Giáng sinh tươi đẹp với lời ca hết sức ý nghĩa, “Feliz Navidad” cùng những câu hát “chúc Giáng sinh an lành tự tận đáy con tim” của mình vẫn có một sức sống rất riêng và được hát nhiều bậc nhất trên toàn thế giới vào ngày lễ này. Vì đó chính là ý nghĩa cao cả nhất của Giáng sinh: tình yêu và sự quan tâm. Và khi nhìn ra những tác phẩm nghệ thuật kinh điển về Giáng sinh, ta cũng thấy được sự tương đồng. Những người nghệ sĩ, những nhà tư tưởng lớn như Charles Dickens, như Frank Capra với sự nghiệp lừng lẫy cùng rất nhiều tác phẩm thể hiện những triết lý nhân sinh lớn lao, khi đứng trước Giáng sinh, cũng đơn giản hóa bản thân, để kể những câu chuyện hết sức giản dị, chạm đến trái tim của người thưởng thức, như “A Christmas Carol”, như “It’s a Wonderful Life”. Không màu mè, phô trương, chúng đề cao tình yêu thương giữa người với người: giữa bạn bè, người thân, những người láng giềng với nhau. Bởi lẽ, Giáng sinh đâu cần gì hơn thế? Nhiều người có thể cười cợt cái cách mà Capra mở nút thắt bộ phim, khi tất cả mọi thứ bỗng dưng quay ngoắt 180 độ với George Bailey ở cuối phim, hay cái cách mà Scrooge thay đổi hoàn toàn con người mình chỉ sau cuộc gặp gỡ với ba hồn ma. Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, ta sẽ thấy, cái kết của “It’s a Wonderful Life” còn bỏ ngỏ rất nhiều khó khăn và chông gai trước mắt cho George Bailey cùng những người dân Bedford Falls, bởi lẽ họ chưa bao giờ thật sự thoát khỏi ảnh hưởng của Potter cả; và dù Potter có chết đi, chắc gì đã không có kẻ khác thế chỗ hắn? Hay đối với Scrooge, nếu không tin vào sự biến cải của lão, thì có lẽ cái biến chuyển trong con người tôi mà Giáng sinh là tác nhân lớn nhất chắc sẽ là một khái niệm tâm lý học hoàn toàn mới lạ đối với nhiều người. Và đến đây, tôi xin mượn những câu chữ của Dickens để nêu lên ý kiến của mình: “và biết rằng dù sao chăng nữa thì những người như thế thường vẫn là mù quáng, lão nghĩ những người đó rồi sẽ bị nhăn nhúm cặp mắt lại vì cười, như mắc một cái tật làm ngoại hình kém hấp dẫn hơn.”
(Nói vậy nhưng, tôi tin, giá trị của “A Christmas Carol” và “It’s a Wonderful Life” lớn hơn thế rất nhiều, dù có hay không cái sự vô lý kia, bởi nó chỉ là thứ yếu khi đánh giá một tác phẩm nghệ thuật. “A Christmas Carol” còn lâu mới có thể được xem là một tác phẩm lớn của Dickens, hệt như “It’s a Wonderful Life” đối với Capra khi mới được ra mắt vậy, nhưng nếu đặt chúng trong hai sự nghiệp vĩ đại ấy, trong tương quan với những “Oliver Twist”, “Những kỳ vọng lớn lao”, “David Copperfield”, “Nicholas Nickleby”,… (với Dickens), hay những “Mr. Deeds Goes to Town”, “You Can’t Take It with You”, “Mr. Smith Goes to Washington”, “Meet John Doe”,… (với Capra), ta sẽ thấy được rằng chúng đóng vai trò rất lớn giúp thấu hiểu thế giới mà hai người xây dựng nên trong các bộ phim hay tiểu thuyết của mình, và thể hiện tư tưởng lớn xuyên suốt các tác phẩm đó.)

Giáng sinh trở thành một người bạn thân thiết với tôi bởi trên chặng đường tôi lớn khôn, nó mãi mãi đơn giản hóa suy nghĩ của tôi, như đã làm với những con người vĩ đại kia vậy. Nó giúp tôi lớn lên về thể xác nhưng tâm hồn thì mãi mãi là của một đứa trẻ. Nó biến yêu thương trở thành thứ tình cảm tôi trân trọng nhất, và quan tâm trở thành hành động tôi chú ý hơn cả. Nhờ Giáng sinh, tôi biết dành thời gian ở bên gia đình nhiều hơn thay vì rong chơi khắp chốn. Nhờ Giáng sinh, tôi biết đồng cảm với những người xung quanh thay vì chăm chăm cho những lợi ích cá nhân. Và hơn hết cả, Giáng sinh chính là hành trình khám phá bản thân của tôi, từ một con người không chút lý tưởng thành một đứa bé yêu tha thiết những người, những vật, những cảnh xung quanh, say mê những câu chuyện cổ tích (bắt đầu từ “A Christmas Carol” và Charles Dickens), những bộ phim xưa cũ (bắt đầu từ “It’s a Wonderful Life”, mở ra lòng ngưỡng mộ lớn lao đối với Frank Capra và Jimmy Stewart trong tôi) và đâu đó, cả những con chữ.

02
Giáng sinh sớm năm nay (ô hay, tôi đã nhảy về hiện tại rồi này, chắc là bởi linh hồn thứ hai không ám tôi như Scrooge nên tôi không nhận thức rõ được các bước nhảy thời gian của mình, thế nên nếu lát nữa tôi có vọt đến tương lai thì cũng đừng bất ngờ nhé), tôi chọn cho mình cuốn sách rất mỏng này, tác phẩm văn học từng được chuyển thể thành bộ phim hoạt hình ngày bé tôi đã xem cùng gia đình và vô cùng thích thú, tại hiệu sách nhỏ luôn cho tôi cảm giác ấm cúng mỗi khi bước vào. Một câu chuyện giản dị về niềm tin và sức sống của nó trong mỗi con người. Ảnh: Nhã Nam

Mới năm trước đây thôi, Giáng sinh một lần nữa cho tôi hy vọng, và niềm tin trước tương lai mù mịt, như cái cách mà nhiều người vẫn còn tin vào Ông già Tuyết (tính thêm cả tôi nữa nhé), như cái cách mà hai người đàn ông trông coi ngọn hải đăng giữa nơi bốn bề là sóng và gió nắm tay chúc nhau Giáng sinh an lành dưới ánh sáng của một đống lửa nhỏ giữa đêm đen trong chuyện của Dickens, như cái cách mà tất cả mọi người cùng sum vầy trong ngôi nhà thân thương một thuở lạnh lẽo đã được Mary tự tay vun vén và thổi vào đó hơi ấm từ tình thương vô bờ của cô, cùng nâng cốc và hoà ca đón Giáng sinh; để tôi có thể hồn nhiên bước vào căn hầm đi bộ tối tăm nơi thành phố vẫn luôn xa lạ với tôi dẫu có bao lần trở lại, lẩm nhẩm và huýt sáo những câu hát của “Hark! The Herald Angels Sing” dù chẳng hiểu quá một nửa ý nghĩa của nó, mặc cho trước mắt bao khó khăn đang đợi chờ:

Hark! the herald angels sing
“Glory to the newborn King!
Peace on earth and mercy mild
God and sinners reconciled”
Joyful, all ye nations rise
Join the triumph of the skies
With the angelic host proclaim:
“Christ is born in Bethlehem”
Hark! The herald angels sing
“Glory to the newborn King!”

Leave a comment