Yêu từ cái nhìn thứ hai

“Bây giờ tôi không còn tin vào cái cụm từ ‘yêu từ cái nhìn đầu tiên’ nữa rồi.”

Câu nói này của bạn tôi hôm nay bỗng làm tôi giật mình. Ngay lập tức tôi lần lượt rà soát lại những tình yêu lớn của đời mình để xác nhận mức độ chính xác của ý kiến đó. Và quả thực, bạn tôi không hẳn là sai.

Trong những cái nhìn đầu tiên hớp hồn ấy, tôi chưa bao giờ biết đó là tình yêu. Ozu “tấn công” tôi bằng Tokyo Story, Ford “quyến rũ” tôi bằng The Searchers. Hai bộ phim bao lâu nay vẫn khiến giới mộ điệu nức nở lẽ dĩ nhiên không khỏi làm tôi xiêu lòng, thế nhưng đến nay tôi chưa một lần nào nghiêm túc xem lại chúng. Tôi thật sự say đắm trước Ozu bắt đầu từ Late Spring, còn Ford chính thức làm tôi mê mệt kể từ The Man Who Shot Liberty Valance, đều ở lần tiếp xúc sau đó. Thế rồi, những An Autumn Afternoon, Early Summer, There Was a Father, The Only Son, Late Autumn, Good Morning, Early Spring, Brothers and Sisters of the Toda Family, v.v…, những The Quiet Man, How Green Was My Valley, Fort Apache, My Darling Clementine, Young Mr. Lincoln, Two Rode Together, Steamboat Round the Bend, Donovan’s Reef, Doctor Bull, v.v… ồ ạt tới khiến cho ánh mắt đầu tiên kia trở nên thật mờ nhạt. Điều tương tự cũng xảy đến với tôi ở trường hợp của Jacques Demy trong Les Parapluies de Cherbourg hay Lưu Quang Vũ trong Tiếng Việt. Dickens, và một người nữa, có lẽ là những lần hiếm hoi chiếc đũa phép nhiệm màu có thể phe phẩy những hạt bụi tiên lên tôi; nhưng đó lại là một câu chuyện khác.

Đúng thật, tôi chẳng mấy khi yêu từ cái nhìn đầu tiên.

The Man Who Shot Liberty Valance (1962), John Ford. Ảnh: Warner Bros.

Không đâu, ngay sau những xao xuyến chớm nở ấy, tôi sẽ bám lấy họ và để họ đốn hạ trái tim tôi cơ.

Cũng dễ hiểu thôi, Tokyo Story The Searchers chỉ là cách mà Ozu và Ford mời gọi ta đi vào điện ảnh của họ; những nét đẹp bên ngoài. Những cái tinh túy hơn, những phong phú bên trong, họ để ta tự khám phá và say mê. Ta có chấp nhận họ, yêu mến họ hay không, những tác phẩm sau đó sẽ là thứ quyết định. Tôi tin rằng rất ít người thực sự ngưỡng mộ Ozu hay Ford chỉ qua Tokyo Story hay The Searchers.

Late Spring (1949), Yasujirô Ozu. Ảnh: Shochiku

Tôi từng nghe những người yêu điện ảnh hết lời ngợi khen Tokyo Story nhưng lại cho rằng những bộ phim khác của Ozu chỉ là đi từ Late Spring mà thành. Tồi tệ hơn, có người chọn Late Spring, Early Summer Late Autumn làm bộ ba hôn nhân của ông. Hôn nhân là đề tài hầu như xuyên suốt các tác phẩm của Ozu kể từ There Was a Father. Nếu phải đưa ra một bộ ba gần giống như vậy chắc tôi sẽ chọn Late Spring, Late Autumn An Autum Afternoon (hai bộ phim sau có thể tạm coi là những biến thể của Late Spring và cũng có thể đi thành cặp với nhau). Thậm chí cách gộp nhóm Late Spring, Early Summer Tokyo Story thành ‘bộ ba Noriko’ cũng không hoàn toàn thuyết phục được tôi, bởi Noriko sẽ còn trở lại trong The End of Summer dù không được thủ vai bởi Setsuko Hara. Trường hợp này rất giống với ‘bộ ba Koker’ của Abbas Kiarostami. Xét cho cùng, cách gộp nhóm chính xác nhất chỉ có thể là xếp chung tất cả các tác phẩm của Ozu với nhau.
Với Ford, người ta luôn nhắc đến The Searchers khi tung hô ông, như một ‘bậc thầy của phong cảnh’. Có một bộ phim vừa thuộc thể loại viễn tây, vừa có những khung hình ngoại cảnh hết sức tráng lệ, và xứng đáng là tác phẩm viễn tây của mọi thời đại: My Darling Clementine. Thật tiếc là tông màu đen trắng yêu thích của Ford lại không hợp với ‘thị hiếu’ của giới phê bình, và nét đa cảm (sentimentality) trong ông không phải là thứ người ta thích chọn cho một hình mẫu của nghệ thuật thuần khiết. Cũng với những lý do đó mà The Man Who Shot Liberty Valance How Green Was My Valley hiếm khi xuất hiện trong danh sách những kiệt tác của điện ảnh thế giới.

My Darling Clementine (1946), John Ford. Ảnh: 20th Century Fox

Late SpringThe Man Who Shot Liberty Valance có một cái chung đã vô tình ghi điểm trong mắt tôi và khiến trái tim tôi thực sự lên tiếng: những đoàn tàu. Rất khó để tìm được một bộ phim của Ozu và Ford không có hình ảnh đoàn tàu. Cả hai đều rất yêu thích tàu hỏa. Nếu như với Ozu, tàu hỏa gắn với quan niệm của người Nhật về một loại phương tiện của huyền bí và đổi thay, của âm vọng thê lương, của khắc khoải và thương nhớ khi xê dịch thì với Ford, những con tàu là hiện thân của văn minh, của số phận, cuộc sống.
A Story of Floating Weeds, There Was a Father, Equinox Flower, Floating Weeds đều kết thúc trong những toa tàu. Đoàn tàu có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong Tokyo Story nhưng Late Spring lại là phim có cảnh tàu ‘thân thương’ nhất đối với tôi: hai cha con nhà Somiya cùng nhau đến Tokyo. Và có lẽ chỉ ở Late Spring ta mới thấy rõ rằng lý do tàu hỏa luôn xuất hiện trong phim Ozu chỉ đơn thuần là do sở thích cá nhân của ông, giống như những chiếc giá phơi quần áo hay những chiếc ống khói. Hầu Hiếu Hiền, một người cũng yêu thích tàu hỏa không kém Ozu, trong bộ phim của Shochiku tri ân 100 năm ngày sinh bậc tiền bối, Café Lumière, đã rất tinh tế khi lấy những đoàn tàu làm hình ảnh chủ đạo, thậm chí còn cho một nhân vật đi khắp các ga trong thành phố Tokyo để ghi lại âm thanh những chuyến tàu. Nếu những chuyến tàu trong Tokyo Story khiến tôi choáng ngợp thì chuyến tàu trong Late Spring lại cho tôi cảm giác yên ấm. Cốt lõi của tình yêu chẳng phải là thế sao?

Đoàn tàu tới Tokyo trong “Late Spring”. Ảnh: Shochiku

Ngược lại, The Man Who Shot Liberty Valance là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tàu hỏa trong phim Ford. Và chắc chắn, chưa biết đến tàu hỏa là chưa biết đến một phần con người Ford. Tàu hỏa chính là thứ đã đưa Ford đến với kinh đô điện ảnh, mở đầu cho một huyền thoại, giống như đoàn tàu đã đưa Sean Thornton về với quê hương Ireland yêu dấu nơi anh tìm thấy tình yêu của đời mình trong The Quiet Man, đoàn tàu đến ga gợi lên một thị trấn nông thôn theo phong cách rất “tài liệu” mở màn Dr. Bull mà theo Jean-Marie Straub, tóm gọn toàn bộ thời kỳ Tân Hiện thực, hay trong chính cảnh phim mở đầu của The Man Who Shot Liberty Valance khi Ransom Stoddard cùng người vợ quay về dự đám tang của người bạn cũ và hé mở câu chuyện trong quá khứ về ‘người đã bắn Liberty Valance’. Tàu hỏa của Ford trong đây là biểu tượng cho sự tiếp diễn của cuộc sống. Phim mở đầu với tiếng hú còi báo hiệu tàu vào ga và kết thúc cũng với tiếng hú còi của đoàn tàu ấy rời ga, đoàn tàu đã mang văn minh đến cho miền viễn tây, ‘con ngựa sắt’ trong The Iron Horse. Dù chuyện gì đã diễn ra, đang diễn ra và sẽ diễn ra, dòng đời vẫn tiếp tục, “sự thật” nhường chỗ cho “huyền thoại”, hoang dã nhường chỗ cho văn minh.

Đoàn tàu rời miền viễn tây không tên trong “The Man Who Shot Liberty Valance”. Ảnh: Warner Bros.

Ozu và Ford, người cha và người mẹ thứ hai của tôi; tôi những muốn liên hệ họ với nhau; tôi những muốn chỉ ra những ảnh hưởng của Ford lên Ozu, từ những khung hình tĩnh đến những góc máy thấp, hay cả những giao thoa trong tư tưởng của hai người. Nhưng giờ đây tôi sẽ tạm gác lại mong muốn đó vậy. Dẫu ta yêu mẹ đến mấy và kính cha nhường nào, ta không thể sống thiếu một ai; vậy thì ích gì khi so sánh hai người với nhau kia chứ? Ozu có thể học từ Ford, có thể không, nhưng một Ozu đã dặn tôi câu “Không có gì phải buồn cả” trong phút chia ly và một Ford đã cho tôi hiểu rằng tình yêu là thứ sẽ giữ cho con người ta không bao giờ chết đi, họ như là “khối óc” và “trái tim” của tôi, mỗi người chiếm cứ một ngăn riêng trong cõi lòng tôi. Nếu một ngày ngoài kia có điều gì khiến tôi tủi cực, một người sẽ ôm tôi vào lòng và dỗ dành tôi, còn người kia sẽ nâng đỡ tôi đứng dậy và truyền cho tôi sức mạnh để bước tiếp.

Tôi sẵn sàng đánh đổi ‘cái nhìn đầu tiên’ để có được những tình yêu đậm sâu đến như vậy đấy.

Leave a comment