“Don’t criticize my manifesto.”
— W.A.
Yes, dear, blessing is this—you stayed just you, always.
Else, how’d I behold, in that, purest of graces.
“Don’t criticize my manifesto.”
— W.A.
Yes, dear, blessing is this—you stayed just you, always.
Else, how’d I behold, in that, purest of graces.
“(he who’s never once dreamt of it
has no right to judge the verses)”
— L.Q.V.
“Negli occhi porta la mia donna Amore,
per che si fa gentil ciò ch’ella mira;”
— D.A.
When I heard Chopin’s Ballade No. 1 Op. 23 in the Grand Amphitheatre of the Sorbonne that day, in my mind suddenly shimmered the image of L.. I can’t say whether L. had ever listened to this piece, or whether L. liked Chopin, or Romantic music in general; for an IKEA devotee and a practitioner of martial arts like L., I just simply didn’t register that as a piece perfectly belonging to the personality puzzle, even though the naïve child in me keeps clutching at an unverifiable faith that people who truly see the real beauty in mathematical formulae would be able to perceive the counterpart in classical melodies. Whatever the reason was, thanks to some unknown spell, I kept thinking of L. all the while the talented pianist of the university’s choir was engrossed in the piece which she had earlier shared convinced her to devote herself to studying the piano and which she was very proud to play in front of the entire hall, over the course of nearly ten minutes.
Continue reading “Happy Birthday, mia donna”“Il suffirait de presque rien […] que je te prenne par la main pour t’emmener à Saint-Germain…”
— Jean-Max Rivière
Bản dịch này, tôi dành tặng cho em, nhân cái ngày đánh dấu một nửa những năm tháng xuân thì – của em, cũng như (sớm thôi) của tôi – chính thức đi qua; một ngày cuối một tháng Tám nhiều mưa đã chứng kiến không biết bao đêm chúng ta nằm ôm nhau co ro trong căn phòng ngủ thấp bé dưới tầng hầm có cửa sổ nhìn ra khu vườn nhỏ gần như lúc nào cũng được che rèm kín bưng, để không ai khác có thể nhòm ngó vào thế giới của riêng hai chúng ta, từ bên trong chỉ có thể nghe thấy phảng phất, nhưng cũng có lúc dồn dập, tiếng mưa rơi đập xuống hiên nhà, lên những tán cây, văng vẳng bên kia đường tiếng chó sủa vào những thời khắc bất định, và thấp thoáng những tia nắng xiên xiên từ cầu vồng sau mưa.
Continue reading “Lời tựa: Một sáng đẹp trời giữa nhiều sáng xấu trời”Đã một năm rồi từ ngày tâm trí tôi rơi vào một mớ bùng nhùng của những nuối tiếc, nghi kị, dằn vặt, khổ đau vì mất đi người con gái quý giá nhất của cuộc đời mình, hệt anh nhân vật chính trong Je t’aime, je t’aime của Alain Resnais. Như thể có một cỗ máy thời gian còn đang trong giai đoạn thử nghiệm đưa tôi ngược dòng ký ức, tôi trôi nổi giữa quá khứ và hiện tại, giữa những mất và còn, giữa hư vô và đời thực, để rồi không thể thoát ra được nữa. Những ký ức ấy có thực hay không, chính tôi cũng chẳng biết: trí óc là vậy, nó tự lấp đầy những khoảng trống trong trí nhớ con người, nhào nặn lên những hình hài mà nó, hay con người đó muốn, hoặc không muốn tạo nên.
“Où êtes-vous… mon amour perdu…”
(“Em đâu rồi… tình yêu đã mất/lạc lối của tôi…”)
— L’année dernière à Marienbad
“Wasn’t I lucky to be born in my favorite city?”
– Tootie, Meet Me in St. Louis
Khu phố Bourse – Esplanade – Krutenau của Strasbourg trong cảm tưởng của tôi là cả một châu Âu thu nhỏ. Rất nhiều những con phố hay quảng trường ở đây được đặt theo tên những thành phố nổi tiếng của Lục địa già: rue de Stuttgart, rue d’Istanbul, rue d’Ankara, place d’Athènes, rue d’Oslo, rue de Stockholm, rue de Genève, rue de Berne, rue de Lausanne, rue de Lucerne, rue/place de Zurich, rue de Milan, rue de Rome, v.v… Gắn với đó đôi khi là những bến dừng xe buýt mang độc cái tên của các thành phố ấy: Ankara, Zurich, Rome, hay đặc biệt là Palerme – nơi tôi vẫn thường khởi hành những cuộc lang thang không đích đến của mình – khiến người ta dễ có cảm giác như chỉ cần bước xuống xe buýt hoặc tram là đã đặt chân đến Đức, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp hay Thụy Sĩ. Tất nhiên không chỉ có tên các thành phố: quai des Alpes, route du Rhin hay quartier Danube là những ví dụ điển hình của việc núi và sông ở Tây (và Đông) Âu cũng có thể trở thành những địa danh ở nơi đây. Strasbourg không phải thành phố duy nhất làm điều này, nhưng trong một khu vực địa lý không quá lớn, những cái tên ấy vẫn xuất hiện một cách dày đặc, thậm chí nối liền nhau dọc các trục đường; rõ ràng đó không phải một sự ngẫu nhiên. Phải chăng, ngoài một vài đặc quyền chính trị, vì lẽ đó nữa mà Strasbourg thường kiêu kỳ mang cho mình danh xưng capitale européenne?
Continue reading “La Krutenau”Trong dòng những biến đổi, tôi muốn nắm bắt hết, những vươn mình thức giấc, những phai nhạt, lãng quên.
Trong dòng những chuyển động, tôi muốn ghi chép hết, những gặp gỡ, chia tay, những hội ngộ, ly biệt.
Trong dòng những bất động, tôi muốn vẽ lại hết, bầu trời đêm không một vì sao xa, phố tĩnh mịch không một ánh điện đường.
Trong dòng những lạc lối, tôi muốn đánh dấu hết, những ngã tư trước mặt hằng lưỡng lự, những giao lộ sau lưng hằng lao đao.
Trong tháng Tư của những ngày tuổi trẻ, tôi gửi lại một phần của tôi, nơi vui tươi tôi dành cho những người, trân trọng tôi dành cho những vật, tiếc nuối tôi dành cho những kỷ niệm đã chẳng còn thân thương.
Tháng Tư ấy, tôi những muốn kể lại, nhưng không phải bằng lời, cũng không phải bằng chữ, lại càng không phải bằng những láo nháo lác nhác phác thảo hay lủng củng lỉnh kỉnh ký họa.
À, thế rồi tôi nhận ra, tất cả những gì tôi cần làm chỉ là nhắm mắt lại… Continue reading “Tháng Tư”
“Nhìn kìa, bố ơi. Cô giáo bảo, mỗi khi chuông ngân là có một thiên thần vừa được ban đôi cánh.”
(Look, Daddy. Teacher says every time a bell rings, an angel gets his wings.)
Những năm gần đây, khi xem “It’s a Wonderful Life”, tôi luôn khóc lúc nghe câu nói hồn nhiên ấy của Zuzu Bailey. Thật ra, tôi đã rơm rớm nước mắt từ lúc Chú Billy cầm giỏ tiền bước vào cùng toàn bộ người dân Bedford Falls “không hề hỏi một câu, chỉ bảo: George gặp rắc rối à? Thế thì có tôi nữa”, lúc Harry Bailey trở về nhà sau khi được trao huân chương từ Tổng thống và nâng cốc nói: “cho ông anh của em, người giàu nhất thị trấn”, để rồi vỡ òa khi Zuzu nói câu đó và rồi tất cả mọi người cùng đồng thanh hát vang “Auld Lang Syne”. Thậm chí năm trước, mắt tôi đã nhòe lệ ngay từ đầu phim khi những lời cầu nguyện được cất lên: “Con nợ George Bailey tất cả mọi thứ. Hãy giúp cậu ấy, thưa Cha”, “Hỡi Thánh Joseph, Chúa Jesus và Đức Mẹ Mary, hãy giúp bạn con anh Bailey”, “Xin hãy giúp con trai con đêm nay”, “Cậu ấy chưa bao giờ nghĩ cho bản thân mình. Thế nên cậu ấy mới gặp rắc rối”, “George là người tốt. Tha cho cậu ấy đi, Chúa”, “Con yêu anh ấy, thưa Chúa. Xin hãy trông nom anh ấy đêm nay”, “Xin Người đấy, Chúa. Bố con gặp chuyện gì rồi”, “Xin hãy mang bố con về”. Và rất nhiều lần trong suốt hơn hai tiếng thời lượng bộ phim, tôi phải dừng lại để dụi khô hai mắt. Nhiều người có thể nói rằng tôi dễ dãi trong cảm xúc, rằng tôi dễ xúc động trước những điều nhỏ nhặt (chắc không đến mức như anh bạn Bloch của Proust trong “Bên phía nhà Swann” đâu). Có thể đúng, nhưng cũng xin nhớ cho tôi từng chẳng hề mảy may xúc động khi xem những bộ phim vẫn luôn được coi là lấy đi nhiều nước mắt của khán giả như “La vita è bella”, “Saving Private Ryan” hay “Schindler’s List”…
Không biết từ bao giờ, xem “It’s a Wonderful Life” đã trở thành thông lệ với tôi mỗi dịp Giáng sinh về, khi ngọn gió đã trở nên buốt lạnh và bầu trời khoác tấm áo đục ngầu tựa như muốn cô lập hết hơi ấm từ Mặt Trời lúc này đã ở xa Bắc bán cầu trong hành trình của Trái Đất, dưới mái nhà ấm áp nơi những người thương yêu luôn đón đợi tôi trở về. Tôi từng lo lắng liệu rằng xem nhiều như vậy có làm cho tình yêu của tôi với bộ phim giảm bớt đi không; liệu rằng có một ngày nào đó khi tôi đã thuộc lòng hết từng tình tiết, từng lời thoại của bộ phim, tôi sẽ không còn hứng thú với nó nữa. Có lẽ cảm xúc kia đã là câu trả lời thích đáng nhất cho băn khoăn của tôi. Có thể thấy, để đánh giá một tác phẩm điện ảnh, tiêu chí hàng đầu nên được xét đến là giá trị xem lại của nó.
Mỗi một lần xem “It’s a Wonderful Life” là một lần tôi khám phá ra được một điều mới lạ, bổ sung vào những gì tôi đã biết về bộ phim. Trên bước đường trưởng thành của tôi, nó như một người bạn dạy cho tôi những bài học lớn lao về sự cảm thông, hy sinh, niềm tin và hơn hết cả, tình yêu. Và tôi biết, mình sẽ luôn dành trọn tình cảm cho bộ phim, sẽ luôn khóc, luôn cười như một đứa trẻ trước từng hành động, lời nói, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ của các nhân vật trong phim; cũng như sẽ luôn trân trọng những điều kỳ diệu mà Giáng sinh mang lại cho tôi, ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

Những mẩu chuyện không đầu không đuôi
ký ức là vậy, chỉ thật sự đẹp với riêng người đã trải qua chúng
“HNB xin kính chào quý khách. Quý khách đang đi trên tuyến buýt số hai bốn: LB – NTS – CG. Lộ trình vận hành: CG – ĐL – TC – MK – NK – BXLY – NK – TKD – LB.”
Giờ đây nhắm mắt lại tôi cũng có thể hình dung thấy mình đang ngồi trên hàng ghế cuối cùng của chiếc xe buýt muộn giờ đang hối hả xuất phát từ điểm đầu bến, tiếng loa thông báo vang lên trong tiếng động cơ ruỳnh ruỳnh, tiếng những chiếc tay vịn lách cách đập lên tận trần xe và những tiếng kêu huỳnh huỵch mà chiếc xe nhún nhảy phát ra khi đi qua ổ gà với tốc độ nguyên xi như đi trên đường bằng phẳng. Cái câu nói kia dần trở thành câu nói quen thuộc nhất trong ngày với tôi, thay cho câu “Con ơi, xuống ăn cơm!” của mẹ tôi ngày tôi chưa xa nhà. Năm đầu tiên ở chốn thủ đô, năm của những xê dịch, tôi đã hình thành cho mình một mối tương quan mật thiết với những chiếc xe buýt.
Cái thành phố rộng lớn này (một sự rộng lớn mà tôi vẫn chưa hoàn toàn tâm phục khẩu phục) được tôi thu nhỏ lại bằng việc gọi tên điểm đầu, điểm cuối hay các tuyến đường mà những chiếc xe đi qua. Ở đây có thể lên xe này, đến kia lại bắt được xe đó, xe này tiếp nối xe kia ở những điểm này điểm kia… Mọi ngả đường của cái thành phố xa lạ này đều được kết nối với nhau thông qua hệ thống xe buýt. Tôi mang số những chuyến xe đánh cho những phố dài, mang tên của những bến dừng đánh cho những địa danh. Và tôi mang cả những chiếc xe vô tri vô giác đánh cho những mốc thời gian xê dịch trong một năm rất nhiều biến cố của mình. Continue reading “Buýt 24”
“ta ngồi trên bến, con tàu trắng
sông rộng mây mờ chân núi xanh
như một người quen xa vắng mãi
anh ngỡ quên, thu bỗng trở về”
(Thu, Lưu Quang Vũ)
Thu của tôi chưa bao giờ có lá vàng. Tôi vẫn luôn ngỡ ngàng khi thấy các thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, các nhà làm phim, các nhiếp ảnh gia,… có thể sáng tạo nên những khung cảnh thu ngập tràn lá vàng tươi phủ kín những con đường, những cánh rừng hay đôi bờ sông đến như thế. Thu của tôi họa chăng chỉ có vài chiếc lá úa nằm cong queo bên vệ đường, có thứ nắng vàng giòn, thứ gió se se lạnh thổi trong mỗi buổi chiều muộn đạp xe trên đường về nhà. Cái nắng của thu không sáng bừng như cái nắng hạ; và trong tâm tưởng tôi, hạ mang màu xanh lam của cây lá điểm xuyết màu trắng của bầu trời nhìn qua những tán cây, còn thu mang một màu vàng ươm, chỉ của nắng thôi; đó không nhất thiết (và cũng chẳng phải) là màu của đất trời, đó đơn giản là những thứ nhãn dán mà tôi gắn cho các mùa để xếp vào trong suy tưởng của mình, mỗi mùa một màu, và vì thế, một vẻ.
Tôi từng không tin vào thu; khi còn học phổ thông tôi đã từng viết những câu như thế này (mà phải thú thực là giờ khi lục tìm lại tôi phải ôm bụng cười lúc đọc đến dòng cuối cùng)
“Cái lạnh đầu mùa nỡ vội vàng?
Chút mây, chút gió vẫn miên man
Phai dần tia nắng kêu đông tới
Lất phất giọt mưa đuổi hạ tan
Buổi sớm đen thui như đổ mực
Hoàng hôn rực đỏ tựa tàn than
Đạp xe đường phố chiều hôm muộn
Không bạc, chẳng tiền cũng thật sang!”
trong một ngày trở gió cuối thu trên đường đi học về. Chỉ có hạ và đông, thu tuyệt nhiên không tồn tại trong thế giới quan của tôi ngày ấy. Không phải tôi không biết đến thu, nhưng tôi không cho nó là một phần của khí hậu, của trời đất, của vạn vật. Xuân cũng vậy. Những mùa chuyển tiếp ngày trước với tôi luôn chỉ có trong sách vở và báo đài. Cái sự nhận thức rằng thu và xuân sẽ khoác tấm áo mới cho thiên nhiên khi mà nắng không còn trắng và sớm không còn đen nữa mới đây đã đến với tôi, nhưng không phải từ những quan sát về những biến chuyển hết sức nhỏ nhẹ, tinh tế của hoa cỏ, nắng mưa, mà đến từ những câu chuyện, luôn là vậy.
Bởi chưng, tôi có bao giờ thực sự nhìn thấy?

Nỗi buồn của người đi xa, nỗi đau người ở trốn lạ, nỗi hờn của kẻ bơ vơ. Có chăng là nhung nhớ, có chăng là tha thiết, có chỉ là hoài mong?
Xa nhà, đó có lẽ là một bước trưởng thành tất yếu của mỗi con người. Trong chúng ta, dù thời điểm có thể khác nhau, dù cách thức có thể không là một, ai cũng phải trải qua bước ngoặt quan trọng đó, để học hỏi, để có thêm trải nghiệm, để lớn lên, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Rồi một ngày nào đó, khi trở về (hay dù không trở về), ta trở thành một con người khác, khôn ngoan hơn, chín chắn hơn, hoàn thiện hơn, như một viên ngọc thô đã được mài dũa sáng lấp lánh. Cũng lạ là tôi có thể tiếp thu được mấy thứ triết lý nhảm nhí đó, vì với tôi, dù có tuyệt diệu cỡ mấy, chỉ rời nhà một thời gian thôi cũng đã là cả một nỗi khổ nhọc rồi (khổ nhọc vì phải xa những người đã chiếm trọn một góc trong trái tim tôi như Proust chưa thể đi ngủ khi chưa được mẹ hôn nhiều hơn là khổ nhọc vì phải tự lo cho bản thân), chưa nói đến việc phải đặt chân lên cái thành phố luôn là ám ảnh hãi hùng mỗi khi thoáng qua trong trí óc tôi.
