Như một thằng ngốc

Không thể nghi ngờ gì được, điện ảnh là hình thức nghệ thuật quyền lực nhất. Nó có thể, cùng một lúc, bao gồm cả văn chương, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, nhiếp ảnh, lại vừa có thể tách riêng ra và có sức sống mạnh mẽ mà không cần đến bất kỳ thứ nào bổ trợ. Tất nhiên, quyền lực chỉ có ý nghĩa khi nằm trong tay những con người kiệt xuất. Chính vì thế mà những hình thức nghệ thuật khác không bao giờ mất đi chỗ đứng và điện ảnh cũng chưa bao giờ chiếm thế thượng phong. Mà dù sao nói đi cũng phải nói lại, điện ảnh đôi khi tồn tại được cũng là nhờ những thứ kia (và đổi lại, đôi khi, dù ít hơn, những thứ kia tồn tại được lại là nhờ điện ảnh).

Nhưng thôi, ta hãy để vấn đề ấy cho các nhà nghiên cứu, lý luận, các vị nghệ sĩ, hay cả những vị chẳng phải là ai trong số đó, muốn khẩu chiến (hoặc bút chiến) với nhau. Tôi sẽ ca ngợi điện ảnh từ góc độ một người thưởng thức không chuyên, dựa trên những hiểu biết nghèo nàn của tôi về những bộ phim và những người làm ra chúng.

Người ta đã nói rất nhiều về các bộ phim lớn, và cách mà chúng tác động, ảnh hưởng đến con người ra sao. Đương nhiên, điều đó cho thấy sức mạnh của điện ảnh. Nhưng người ta cũng có thể làm thế với những cuốn sách, những bản nhạc, bài hát, các bức tranh, bức ảnh, các công trình kiến trúc và chứng minh sức mạnh của những loại hình nghệ thuật mà chúng đại diện. Thế còn những bộ phim bình thường, hoặc thậm chí, những bộ phim dở thì sao? Tôi không nghĩ rằng chúng ta nên bỏ quên chúng. Và đó sẽ là xuất phát điểm của tôi: những bộ phim bình thường, không quá xuất sắc.

Có một điều vô cùng phi thường ở các bộ phim không quá phi thường đó là đôi lúc nó có một ảnh hưởng quá đỗi phi thường lên những người xem chúng. Nghệ thuật vốn là chủ quan, người ta đã nhắc đi nhắc lại điều này đến nhàm tai rồi (tất nhiên cái “lớn” của một tác phẩm nghệ thuật thì không hẳn là chủ quan, nhưng cũng có khi lại hoàn toàn là chủ quan, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, và lịch sử cũng đã nhiều lần sai). Tuy nhiên cái chủ quan của điện ảnh là nhiều nhất, một phần bởi điện ảnh tác động lên nhiều giác quan, cảm quan nhất. Càng nhiều giác quan được khơi gợi thì cái tôi sẽ càng được đánh thức. Và người ta sẽ bắt đầu thấy được những cảm xúc và trải nghiệm cá nhân trong những gì diễn ra trước mắt họ nếu có một sự tương đồng đáng kể. Có những khi, ta tìm thấy mình trong những bộ phim chẳng mấy ai ca ngợi hay thậm chí còn bị hắt hủi, chê bai. Và ta bắt đầu yêu nó, dành cho nó một sự ngưỡng mộ, tôn sùng rất riêng mà không hẳn tất cả mọi người đều sẻ chia. Đó là thứ mà người ta vẫn gọi là đồng điệu, còn tôi chỉ đơn giản cho rằng ta đã tìm được đúng bộ phim hợp với mình.

Trong đời tôi, đã từng có nhiều bộ phim như vậy, và gần đây nhất phải kể đến Begin Again. Đây là bộ phim mà chính bản thân cha đẻ của nó, John Carney, cũng không cho rằng là một tác phẩm thành công của mình. Nhưng hãy cùng nhìn rộng ra, đặt nó trong tương quan với Once (bộ phim vẫn thường được coi là tác phẩm lớn nhất của Carney), ta sẽ thấy cả hai thực chất chỉ là cùng một câu chuyện. Ở Begin Again, John Carney chỉ đang kể lại cuộc gặp gỡ đã đem đến danh tiếng cho ông 6 năm trước đó dưới một lớp áo khác, với dàn diễn viên chuyên nghiệp, hệ thống máy quay được dàn dựng công phu và bối cảnh là một thành phố lớn (những thứ mà ta có thể tạm coi là theo chuẩn Hollywood). Và ta sẽ thấy đây có lẽ chỉ là một bước đệm để Carney tiến tới Sing Street, bộ phim đã hoàn toàn khẳng định tên tuổi cho ông ở Hollywood. Nói cách khác, Begin Again là một thử nghiệm, một cuộc tập dượt của Carney trên con đường trở thành đạo diễn chuyên nghiệp (bản thân nhan đề, Begin Again – Bắt đầu lại từ đầu, dường như đã là một gợi ý). Vì thế mà theo một cách nào đó, nó vẫn giữ được những gì hết sức thô ráp, thuần khiết, tinh túy nơi một nhà làm phim vị nghệ thuật, đồng thời vẫn đảm bảo đáp ứng được thị hiếu của khán giả ra rạp. Do đó, không khó hiểu khi bộ phim tạo được thành công lớn về doanh thu.

Begin_Again
Begin Again, John Carney. Ảnh: Starz / Anchor Bay

Điểm sáng lớn nhất của Begin Again, theo tôi, đến từ Keira Knightley. Đối với tôi, Keira Knightley là một trong những nữ diễn viên tiêu biểu nhất cho tinh thần Anh ở thế hệ của cô. Nhắc đến Keira Knightley là nhắc đến tiểu thư Anh kiều diễm trong những Pride & Prejudice hay Atonement, đến những người phụ nữ “ghê gớm” nhất của văn chương (Elizabeth Bennet và Anna Karenina), đến nàng thơ của nhà làm phim tài hoa Joe Wright trong những tác phẩm đậm chất Anh của mình.

Với Joe Wright, tôi luôn dành cho ông một sự ngưỡng mộ lớn lao, không phải bởi tài năng của ông, mà bởi sự dũng cảm dám đứng ra chuyển thể những tiểu thuyết văn chương rất tầm vóc. Chưa bàn đến chất lượng của những bộ phim đó, chỉ riêng can đảm đưa những cuốn tiểu thuyết như Kiêu hãnh và định kiến hay Anna Karenina lên màn ảnh rộng đã đủ để ta cảm phục ông rồi. Bước vào địa hạt văn chương là bước thẳng tới và đối diện với tất cả những so sánh, đối chiếu, tranh cãi muôn thuở về việc bộ phim chuyển thể có (hay) bằng tiểu thuyết gốc không. Trong lịch sử điện ảnh, không nhiều nhà làm phim thật sự thành công trong việc đưa lên màn ảnh rộng những tác phẩm văn chương lớn, có thể kể đến John Ford (How Green Was My ValleyThe Grapes of Wrath), Stanley Kubrick (Lolita, A Clockwork Orange, Barry Lyndon, The Shining, Full Metal Jacket, Eyes Wide Shut), Francis Ford Coppola (Bố già, Giữa lòng tăm tối), John Huston (The Maltese Falcon, Moby-Dick), Alfred Hitchcock (The 39 Steps, Strangers on a Train), … (đến đây hiểu biết hạn hẹp và trí nhớ tầm thường của tôi chặn đứng tôi lại rồi) và David Lean, đạo diễn huyền thoại người Anh mà chính bản thân Joe Wright rất tôn thờ, với Bác sĩ Zhivago cùng hai tiểu thuyết đồ sộ của Charles Dickens (Oliver TwistNhững kỳ vọng lớn lao).

Keira Knightley
Keira Knightley trong Begin Again. Ảnh: Starz / Anchor Bay

Nếu như Stanley Kubrick, Wim Wenders hay Spike Jonze tiếp cận điện ảnh từ nhiếp ảnh thì Joe Wright lại đi từ hội họa (ở đây ta thấy được sự tương đồng với người đồng nghiệp Tom Hooper của ông, cả hai đều là những người khổng lồ của điện ảnh xứ sương mù thế kỷ XXI) và sân khấu. Và hãy tạm quên đi việc Anna Karenina thất bại thế nào so với nguyên tác kinh điển của Lev Tolstoy, những trải nghiệm vô cùng độc đáo về mặt hình ảnh của bộ phim cho ta thấy được phần nào giá trị không thể xem nhẹ của nó. Đây là điều mà văn chương không thể đem đến cho người thưởng thức, dù cho những câu chữ và miêu tả của Tolstoy có đạt đến độ lão luyện chừng nào. Anna Karenina thậm chí còn là một cú phóng chiếu thẳng không giấu diếm từ văn chương lên điện ảnh của Joe Wright. Áp dụng những hiểu biết về hội họa, ông tạo nên những dàn cảnh (mise-en-scène) ngoạn mục và những cú chuyển cảnh mang màu sắc sân khấu bằng cách thao túng (manipulate) thời gian theo triết lý (rất riêng) của mình. Và có lẽ không phải tùy tiện khi nói rằng Anna Karenina của Joe Wright là một Anna Karenina hoàn toàn khác, một Anna Karenina của nước Anh. Một phần không nhỏ trong đó là đóng góp từ Keira Knightley. Cô biến người phụ nữ thượng lưu Nga thế kỷ XIX ấy thành nhân vật của chính mình và thể hiện trên màn ảnh một nàng Anna Karenina Anh Quốc vô cùng duyên dáng, yêu kiều, gợi cảm. Bộ phim, nói một cách công bằng, có thể đứng riêng rẽ so với tác phẩm văn học, và là một minh chứng hùng hồn rằng điện ảnh không thể (và không đáng bị) so sánh với văn chương. Ngôn ngữ của điện ảnh là hình ảnh (động), còn ngôn ngữ của văn chương là ngôn từ. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, và chúng đặc biệt khập khiễng khi áp dụng với hai loại hình nghệ thuật có hình thức diễn ngôn (gần như) hoàn toàn khác nhau này. Câu thoại trong Atonement của nhà viết kịch nhí Briony Tallis như một tuyên ngôn nghệ thuật chắc nịch của Joe Wright: “Nếu ta viết một câu chuyện, ta chỉ cần nói từ lâu đài là có thể thấy những ngọn tháp, những khu rừng và làng mạc dưới chân; nhưng trong một vở kịch, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào những người khác.”

01
Anna Karenina, Joe Wright. Ảnh: Universal Studios

Bộ phim chuyển thể đầu tay của Joe Wright, Pride & Prejudice, có thể được xem là một thành công nếu ta không quá xét nét từng chi tiết một. Tuy nhiên, Joe Wright và Keira Knightley vẫn để lại những dấu ấn cá nhân đậm nét mà ta dễ dàng nhận ra. Triết lý thao túng thời gian và nghệ thuật dựng phim của Joe Wright có thể tóm gọn lại trong cú quay hướng nhìn (point-of-view shot) tuyệt mỹ cảnh Elizabeth Bennet ngồi trên chiếc đu và xoay mình theo dòng chảy của thời gian, mùa màng và cảnh vật. Văn chương không thể làm được điều đó; và một lần nữa (đúng hơn là lần đầu), với Pride & Prejudice, Joe Wright gây ấn tượng lên người xem bằng những thủ pháp dựng phim nhiều hơn là câu chuyện. Keira Knightley thì vẫn duyên dáng, yêu kiều và cá tính như chính con người cô; và cô đang vào vai Elizabeth Bennet – người phụ nữ số một của văn chương Anh – hay chính bản thân cô? Thật khó trả lời. Bởi cái tinh thần Anh trong cô quá lớn, nó bao trọn mọi hình tượng nhân vật và hình mẫu nghệ thuật mà một tác phẩm được sản sinh ra ở nơi đây có thể khắc họa. Kiêu hãnh và định kiến, tác phẩm văn chương yêu thích của Keira, cứ thế mà mang một hơi thở hiện đại trong bối cảnh hết sức cổ xưa nơi miền quê nước Anh của mình. Phần kịch bản của phim còn có sự đóng góp từ một nữ diễn viên Anh kiệt xuất khác, một đại diện nữa của tinh thần Anh bên phái nữ: Emma Thompson – người từng đóng vai chính và biên kịch cho bộ phim chuyển thể của Lý An từ kiệt tác Lý trí và tình cảm cũng của Jane Austen. Nước Anh có những người phụ nữ thật tuyệt vời.

Atonement, tác phẩm được đánh giá cao nhất của Joe Wright, cũng là một chuyển thể văn học, có thể được xem là một ngoại lệ. Với một cốt truyện không quá lắt léo và hệ thống nhân vật không quá dàn trải, công bằng mà nói, đây không phải thách thức quá lớn đối với nhà làm phim người Anh, nếu so sánh với hai tiểu thuyết trên. Hơn nữa, câu chuyện về sự chuộc lỗi và những ăn năn về hành động trong quá khứ còn giúp Joe Wright có cho mình một không gian để tha hồ vùng vẫy và thỏa sức áp dụng những góc máy, những dàn cảnh, những tuyến thời gian đặc biệt (thao túng thời gian ở đây đã đạt đến mức tuyệt kỹ) vào xây dựng tâm lý nhân vật. Phần âm thanh chỉ với những tiếng “tạch tạch” của chiếc máy đánh chữ lúc to lúc nhỏ tạo không khí cho cảnh phim và gây ám ảnh cho người xem cũng đủ là một đỉnh cao khác bên cạnh phần âm nhạc hoàn mỹ của Dario Marianelli. Keira Knightley tiếp tục có cho mình một vai diễn để đời. Chị là một trong hai diễn viên Hollywood hiện đại có thể làm tôi xúc động chỉ với câu nói: “Come back to me” (người còn lại là Amy Adams, trong Arrival). Atonement là một thăng hoa tột cùng của Joe Wright khi ông khơi dậy tất cả sức mạnh nơi bộ môn nghệ thuật thứ bảy và là niềm tự hào của điện ảnh xứ sở sương mù.

09
Atonement, Joe Wright. Ảnh: Universal Studios

Ấy thế nhưng bộ phim đầu tiên đưa tôi đến với Keira Knightley không phải là ba tuyệt phẩm kia của Joe Wright, mà lại là Begin Again. Ngay sau đó là The Imitation Game với Benedict Cumberbatch đóng chính (ở bên phái nam thì Benedict với tôi cũng là một trong những gương mặt xứng đáng nhất để đại diện cho tinh thần Anh). Hai bộ phim này có ảnh hưởng rất lớn lên tôi ngày ấy. Đó là những tháng ngày mà tôi cảm thấy mình vô cùng lạc lõng trong lớp học mới, nơi xung quanh tôi là những người bạn không mấy thân thiết cùng vô vàn áp lực học tập nặng nề. Và thế rồi Begin Again đến như một làn gió xuân mát lành, thổi tan tất cả những sợ sệt, lo âu, mỏi mệt trong tôi. Nó không thay đổi tôi, mà đưa tôi trở về đúng với con người mình trước kia, không mạnh mẽ nhưng cũng chẳng yếu mềm, không thông minh nhưng cũng chẳng dốt nát, không tốt đẹp nhưng chẳng hề xấu xí; để tôi có thể lại bắt đầu lại từ đầu cuộc hành trình vốn chẳng biết hồi kết của mình. The Imitation Game đến ngay sau đó và cho tôi động lực lớn lao trên chặng đường phía trước. Sau khi xem xong bộ phim, tôi còn được truyền cảm hứng đến mức viết ra một bản kiểm điểm được thầy chủ nhiệm đem đọc tuyên dương trước lớp (không đùa đâu, thật đấy!). Thời gian dài sau đó, việc học của tôi không còn khó khăn như ngày trước, dù bản thân tôi chẳng hề chăm chỉ hơn chút nào. Đến bây giờ, nếu hỏi tôi lý do cho sự đi lên đó tôi cũng chẳng thể đưa ra được lý giải hợp lý nào. Nhưng tôi biết một điều chắc chắn, Begin Again đóng vai trò không nhỏ trong đó. Cảm giác cô đơn, lạc lõng của nhân vật Gretta giữa lòng New York hoa lệ cũng chính là cảm giác của tôi giữa bạn bè, gia đình, trường lớp khi ấy. Ngay khoảnh khắc Keira Knightley nói câu: “Cho những ai đã từng một mình trong thành phố”, tôi đã lập tức phải lòng bộ phim. Đó là lời giới thiệu của cô trước khi hát A Step You Can’t Take Back. Và chao ôi! giọng hát ngọt ngào, tiếng guitar mộc mạc và phần phối khí du dương (nhất là tiếng dương cầm) mới khiến tôi xao xuyến làm sao. Suốt tháng trời tôi ngân nga bài hát cả ngày và huýt sáo theo nhạc đệm. Cứ thế, tôi đã “sẵn sàng tiến lên mà không thể lùi bước”, bởi tôi đang đứng “nơi ga điện ngầm với cả thế giới trong chiếc cặp mang bên mình” và “chuyến tàu đã theo đường ray tiến đến rồi”. Một bài hát nữa trong Begin Again cho đến bây giờ vẫn mê hoặc tôi, đó là Lost Stars. Tôi yêu bài hát bởi cái vẻ mộng mơ man mác buồn của nó. Cái vẻ đẹp ấy được tôi cảm nhận qua ngôn từ, nhưng không phải bằng cách hiểu ngôn từ, mà bằng cách không hiểu ngôn từ. Đây cũng chính là cách mà tôi nghe rồi yêu Bob Dylan. Người nghe nhạc nghe Dylan và ngưỡng mộ ông bởi những câu hát rất thơ và đầy bí ẩn mà ông viết ra. Tôi thậm chí còn đi xa hơn họ một bước, tôi cảm nhận cả cái thơ và cái bí ẩn ấy nhờ việc không hiểu nghĩa của chính những từ ngữ mà ông sử dụng, thậm chí cả nghĩa đen, nghĩa trong từ điển. Nói cách khác, khi mới bắt đầu nghe Dylan, trình độ tiếng Anh của tôi chỉ ở mức đủ để chào hỏi xã giao thông thường. Nhưng chính cái sự không biết ấy lại đem đến cho những câu hát kia trong cảm nhận của tôi một vẻ đẹp phi thường. “Though you might hear laughin’, spinnin’ swingin’ madly across the sun/It’s not aimed at anyone/It’s just escapin’ on the run/And but for the sky there are no fences facin’” chẳng thật thơ sao khi ta không hiểu nghĩa nó? Bởi như Dylan đã giải thích trong bài diễn từ (lecture) nhận giải Nobel của mình: “John Donne, mục sư và nhà thơ sống ở thời Shakespeare, nữa đã viết những câu thế này: ‘The Sestos and Abydos of her breasts. Not of two lovers, but two loves, the nests.’ Tôi cũng chẳng hiểu chúng mang nghĩa gì. Nhưng chúng nghe hay. Và ta muốn các bài hát của ta nghe hay”. Hay như Proust đã khẳng định trong Đi tìm thời gian đã mất: giá trị tối cao của thơ là tuyệt nhiên không có nghĩa gì hết. Khi ta nghe thơ mà không hiểu nghĩa, chẳng phải thứ duy nhất còn sót lại là âm điệu của từ ngữ hay sao? Và như vậy, những câu thơ vô hình chung đã gần như đạt đến mức không có nghĩa gì hết. Lưu Quang Vũ có một nhận xét có thể lấy làm đặc tính chung cho mọi ngôn ngữ: “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói” (Tiếng Việt). Tôi nghe Lost Stars với cách thức tương tự. Tôi không chủ tâm tìm hiểu ý nghĩa và lời bài hát. Tất cả những gì tôi làm chỉ là nghe. Thế rồi thời gian trôi đi, tôi hiểu hơn từng câu chữ trong bài hát và tâm tình của tác giả. Và tôi càng yêu bài hát hơn. Dylan cũng thế. Tình yêu là vậy, bắt đầu từ những rung động hết sức nhỏ bé, để rồi ta nuôi dưỡng nó và nó nở rộ lên trong những trái tim yêu. Lost Stars dưới tiếng hát của Keira Knightley còn có những câu hát khiến tôi rung cảm dữ dội: “I thought I saw you out there crying/I thought I heard you call my name/I thought I heard you out there crying/We’re just the same” (Em cứ nghĩ em thấy anh đang khóc ngoài kia/Em cứ nghĩ mình nghe anh gọi tên em/Em cứ nghĩ em thấy anh đang khóc ngoài kia/Chúng ta thật giống nhau).

John Carney bắt tay vào thai nghén Begin Again dưới cái tên Can a Song Save Your Life? Liệu một bài hát có thể cứu rỗi cuộc đời tôi không? Chưa chắc. Nhưng nếu bài hát ấy nằm trong một bộ phim thì có thể, khi tôi tìm thấy bản thân mình ở đó.

Lần gần đây quay trở lại với Begin Again, giữa muôn vàn những bộn bề, chán nản, vô phương hướng, tôi một lần nữa lại thấy hình ảnh của chính mình, qua bài hát này:

Như một con ngốc

Ta bất chấp không biết bao lần
Xông pha chẳng ngại gian truân
Rồi anh phá vỡ hết mọi lời hứa ta đã trao
Và tôi vẫn cứ yêu anh dẫu có sao.

Bỏ lại tôi thật đúng lúc dầu sôi lửa bỏng
Biết giờ tim tôi tan nát rồi đấy
Thế nên đừng có lãng phí thời gian của tôi nữa
Bởi anh đã cướp hết gió từ mảnh buồm tôi
Và tôi cứ thế yêu anh không thôi.

Khi ta cuối cùng cũng hiểu ra
Thì anh đi mất
Mãi chạy theo những thứ xa lắc
Và anh đã rủa tôi khi không còn ai để đổ lỗi
Và tôi cứ thế yêu anh không thôi.

Rồi anh phá vỡ hết con mẹ nó mọi luật lệ
Và như một con ngốc tôi vẫn thế yêu anh.

Like a fool

We take a chance from time to time
And put our necks out on the line
And you have broken every promise that we made
And I have loved you anyway

Took a fine time to leave me hangin’ out to dry
Understand now I’m grievin’
So don’t you waste my time
Cause you have taken
All the wind out from my sails
And I have loved you just the same

We finally find this
Then you’re gone
Been chasin’ rainbows all along
And you have cursed me
When there’s no one left to blame
And I have loved you just the same

And you have broken every single fucking rule
And I have loved you like a fool

Leave a comment