Robert-le-Diable Bresson: chất vấn quỷ

“Việc đặt câu hỏi còn quan trọng hơn việc tìm kiếm lời giải đáp.”
Alphaville, Jean-Luc Godard

Sẽ thật khó để viết (thêm) một thứ gì sâu về Robert Bresson, vì có lẽ chẳng có ai trong lịch sử điện ảnh suốt đời chỉ lặng lẽ làm (không nhiều) phim nhưng lại nhận được vô vàn sự chú ý của giới phê bình, nghiên cứu như Bresson (tôi có thể kể thêm một cái tên: Jacques Tati; nhưng người ta có nói nhiều về Tati đến vậy? so với Andrei Tarkovsky hay Ingmar Bergman thì chắc là không); ngay kể cả trong trường hợp Le diable probablement (Quỷ dữ, hẳn vậy) – tác phẩm khó có thể nói là nổi tiếng nhất của Bresson, nhưng nó rơi đúng vào phạm vi những bộ phim của những ông già: những tác phẩm điện ảnh trút bỏ tất cả nét hào nhoáng và chỉ còn trần trụi một bản thể cằn cỗi mà sáng suốt và trải sự đời, một sự trần trụi đến hoàn mỹ, không hề có ý đậy che hay hổ thẹn, mà chỉ có những John Ford (7 Women), Ozu Yasujiro (An Autumn Afternoon), Naruse Mikio (Scattered Clouds), Mizoguchi Kenji (Street of Shame) hay Charlie Chaplin (A Countess from Hong Kong) mới có thể đạt đến được.

Le diable probablement, đạo diễn Robert Bresson
Continue reading “Robert-le-Diable Bresson: chất vấn quỷ”

La Krutenau

“Wasn’t I lucky to be born in my favorite city?”
– Tootie, Meet Me in St. Louis


Khu phố Bourse – Esplanade – Krutenau của Strasbourg trong cảm tưởng của tôi là cả một châu Âu thu nhỏ. Rất nhiều những con phố hay quảng trường ở đây được đặt theo tên những thành phố nổi tiếng của Lục địa già: rue de Stuttgart, rue d’Istanbul, rue d’Ankara, place d’Athènes, rue d’Oslo, rue de Stockholm, rue de Genève, rue de Berne, rue de Lausanne, rue de Lucerne, rue/place de Zurich, rue de Milan, rue de Rome, v.v… Gắn với đó đôi khi là những bến dừng xe buýt mang độc cái tên của các thành phố ấy: Ankara, Zurich, Rome, hay đặc biệt là Palerme – nơi tôi vẫn thường khởi hành những cuộc lang thang không đích đến của mình – khiến người ta dễ có cảm giác như chỉ cần bước xuống xe buýt hoặc tram là đã đặt chân đến Đức, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp hay Thụy Sĩ. Tất nhiên không chỉ có tên các thành phố: quai des Alpes, route du Rhin hay quartier Danube là những ví dụ điển hình của việc núi và sông ở Tây (và Đông) Âu cũng có thể trở thành những địa danh ở nơi đây. Strasbourg không phải thành phố duy nhất làm điều này, nhưng trong một khu vực địa lý không quá lớn, những cái tên ấy vẫn xuất hiện một cách dày đặc, thậm chí nối liền nhau dọc các trục đường; rõ ràng đó không phải một sự ngẫu nhiên. Phải chăng, ngoài một vài đặc quyền chính trị, vì lẽ đó nữa mà Strasbourg thường kiêu kỳ mang cho mình danh xưng capitale européenne?

Continue reading “La Krutenau”

Yêu từ cái nhìn thứ hai

“Bây giờ tôi không còn tin vào cái cụm từ ‘yêu từ cái nhìn đầu tiên’ nữa rồi.”

Câu nói này của bạn tôi hôm nay bỗng làm tôi giật mình. Ngay lập tức tôi lần lượt rà soát lại những tình yêu lớn của đời mình để xác nhận mức độ chính xác của ý kiến đó. Và quả thực, bạn tôi không hẳn là sai.

Trong những cái nhìn đầu tiên hớp hồn ấy, tôi chưa bao giờ biết đó là tình yêu. Ozu “tấn công” tôi bằng Tokyo Story, Ford “quyến rũ” tôi bằng The Searchers. Hai bộ phim bao lâu nay vẫn khiến giới mộ điệu nức nở lẽ dĩ nhiên không khỏi làm tôi xiêu lòng, thế nhưng đến nay tôi chưa một lần nào nghiêm túc xem lại chúng. Tôi thật sự say đắm trước Ozu bắt đầu từ Late Spring, còn Ford chính thức làm tôi mê mệt kể từ The Man Who Shot Liberty Valance, đều ở lần tiếp xúc sau đó. Thế rồi, những An Autumn Afternoon, Early Summer, There Was a Father, The Only Son, Late Autumn, Good Morning, Early Spring, Brothers and Sisters of the Toda Family, v.v…, những The Quiet Man, How Green Was My Valley, Fort Apache, My Darling Clementine, Young Mr. Lincoln, Two Rode Together, Steamboat Round the Bend, Donovan’s Reef, Doctor Bull, v.v… ồ ạt tới khiến cho ánh mắt đầu tiên kia trở nên thật mờ nhạt. Điều tương tự cũng xảy đến với tôi ở trường hợp của Jacques Demy trong Les Parapluies de Cherbourg hay Lưu Quang Vũ trong Tiếng Việt. Dickens, và một người nữa, có lẽ là những lần hiếm hoi chiếc đũa phép nhiệm màu có thể phe phẩy những hạt bụi tiên lên tôi; nhưng đó lại là một câu chuyện khác.

Đúng thật, tôi chẳng mấy khi yêu từ cái nhìn đầu tiên.

The Man Who Shot Liberty Valance (1962), John Ford. Ảnh: Warner Bros.
Continue reading “Yêu từ cái nhìn thứ hai”

How Green Was My Valley — Xanh biết bao một thuở đã qua

Năm 1967, khi đã có trong tay rất nhiều tác phẩm viết nên định nghĩa sau này của môn nghệ thuật thứ bảy, Orson Welles, trong một lần được nhà phê bình người Anh Kenneth Tynan hỏi về các đạo diễn người Mỹ đương thời, đã nói:

“Stanley Kubrick và Richard Lester là những người duy nhất khiến tôi hứng thú—trừ các bậc lão làng. Ý tôi đó là John Ford, John Ford và John Ford. […] Ford ở đỉnh cao của mình cho ta cảm giác rằng bộ phim có sức sống và hơi thở trong thế giới thực, dù kịch bản có thể được viết bởi Mother Machree.”1

Welles đã chỉ tên rất chính xác một trong những đạo diễn lớn nhất của thập niên ’60 giờ đã gần như bị lãng quên trên bản đồ điện ảnh thế giới: Richard Lester. Trái ngược lại, John Ford, nhà làm phim được tất thảy những người đồng nghiệp cũng như giới hâm mộ điện ảnh kính trọng, một lần nữa khẳng định chắc nịch vị trí cao ngút của mình nhờ những lời tán dương từ Welles. Một cái tôi quá lớn như Welles, người sẵn sàng gọi Michelangelo Antonioni là “cha đẻ và người đi tiên phong” trong công cuộc khám phá “buồn tẻ” như một đề tài nghệ thuật, Federico Fellini là một đạo diễn “tỉnh lẻ”, hay cho rằng Thụy Điển của Ingmar Bergman, giống như Henry James nói về Na Uy của Ibsen, ngập “một mùi nến tôn giáo”2; Welles, người bị kinh đô điện ảnh quay lưng trong suốt sự nghiệp của mình như hoàng tử Hal đã làm với Falstaff trong tác phẩm cùng tên năm ấy của ông, dành một niềm ngưỡng mộ đặc biệt đối với nhân vật đứng đầu danh sách những con người nắm giữ kỷ lục về giải thưởng cũng như sự tung hô của Hollywood. Điều đó cho thấy rằng đây là sự nhìn nhận hết sức giá trị. Trên thực tế, Welles cũng là một trong những người đầu tiên thật sự trân trọng giá trị nghệ thuật thuần khiết nhất trong những tác phẩm của Ford, và khẳng định tầm cỡ của ông trong việc truyền cảm hứng cho sự phát triển của điện ảnh.

Continue reading “How Green Was My Valley — Xanh biết bao một thuở đã qua”

Có những mùa thu

“ta ngồi trên bến, con tàu trắng
sông rộng mây mờ chân núi xanh
như một người quen xa vắng mãi
anh ngỡ quên, thu bỗng trở về”

(Thu, Lưu Quang Vũ)

Thu của tôi chưa bao giờ có lá vàng. Tôi vẫn luôn ngỡ ngàng khi thấy các thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, các nhà làm phim, các nhiếp ảnh gia,… có thể sáng tạo nên những khung cảnh thu ngập tràn lá vàng tươi phủ kín những con đường, những cánh rừng hay đôi bờ sông đến như thế. Thu của tôi họa chăng chỉ có vài chiếc lá úa nằm cong queo bên vệ đường, có thứ nắng vàng giòn, thứ gió se se lạnh thổi trong mỗi buổi chiều muộn đạp xe trên đường về nhà. Cái nắng của thu không sáng bừng như cái nắng hạ; và trong tâm tưởng tôi, hạ mang màu xanh lam của cây lá điểm xuyết màu trắng của bầu trời nhìn qua những tán cây, còn thu mang một màu vàng ươm, chỉ của nắng thôi; đó không nhất thiết (và cũng chẳng phải) là màu của đất trời, đó đơn giản là những thứ nhãn dán mà tôi gắn cho các mùa để xếp vào trong suy tưởng của mình, mỗi mùa một màu, và vì thế, một vẻ.

Tôi từng không tin vào thu; khi còn học phổ thông tôi đã từng viết những câu như thế này (mà phải thú thực là giờ khi lục tìm lại tôi phải ôm bụng cười lúc đọc đến dòng cuối cùng)

“Cái lạnh đầu mùa nỡ vội vàng?
Chút mây, chút gió vẫn miên man
Phai dần tia nắng kêu đông tới
Lất phất giọt mưa đuổi hạ tan
Buổi sớm đen thui như đổ mực
Hoàng hôn rực đỏ tựa tàn than
Đạp xe đường phố chiều hôm muộn
Không bạc, chẳng tiền cũng thật sang!”

trong một ngày trở gió cuối thu trên đường đi học về. Chỉ có hạ và đông, thu tuyệt nhiên không tồn tại trong thế giới quan của tôi ngày ấy. Không phải tôi không biết đến thu, nhưng tôi không cho nó là một phần của khí hậu, của trời đất, của vạn vật. Xuân cũng vậy. Những mùa chuyển tiếp ngày trước với tôi luôn chỉ có trong sách vở và báo đài. Cái sự nhận thức rằng thu và xuân sẽ khoác tấm áo mới cho thiên nhiên khi mà nắng không còn trắng và sớm không còn đen nữa mới đây đã đến với tôi, nhưng không phải từ những quan sát về những biến chuyển hết sức nhỏ nhẹ, tinh tế của hoa cỏ, nắng mưa, mà đến từ những câu chuyện, luôn là vậy.

Bởi chưng, tôi có bao giờ thực sự nhìn thấy?

Akibiyori (1960)
Akibiyori (1960), Ozu Yasujirō. Ảnh: Shochiku

Continue reading “Có những mùa thu”

Đôi lời về “Mr. Smith Goes to Washington”: ‘Nước Mỹ’ của Frank Capra

Khi Smith bước xuống chuyến tàu vừa đưa anh từ quê nhà tới Washington, D.C, ngước nhìn ra bên ngoài, “bất thình lình, nó ở đó, nó sừng sững trước mắt anh qua cửa ga”. Đó là Mái vòm Điện Capitol với vị Nữ thần tượng trưng cho Tự do ở trên nóc mà trước đây anh chỉ được biết đến qua tranh ảnh, sách vở. “Lớn như thật, rực rỡ dưới ánh sáng mặt trời bên ngoài”. “Và rồi anh cứ thế cất bước tới đó”, bước lên chiếc xe buýt đang đậu ngay ngoài cửa. Có lẽ anh “chưa từng xúc động đến thế trong đời”, trên mặt hiện rõ sự hớn hở, sung sướng như một đứa trẻ vừa vớ được kẹo. Chiếc xe đưa anh qua mọi ngả đường Washington, D.C, qua tòa nhà Trụ sở Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ với dòng chữ nổi tiếng “Công lý bình đẳng theo luật pháp” (“Equal justice under law”), qua Tòa Bạch Ốc từng là nơi ở và làm việc của biết bao con người vĩ đại mà từng lời nói của họ anh đều đã nằm lòng, qua Tòa Quốc Hội nơi anh quyết định ghé vào tham quan. Chiếc Chuông Tự do ngân vang trên nền bản Tuyên ngôn Độc lập được máy quay cận cảnh ghi lại ba cụm từ bao đời nay đã ngự trị trong tiềm thức của người dân Mỹ: “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Anh tiếp tục chuyến tham quan của mình, thăm Tượng đài Washington sừng sững soi bóng xuống Hồ phản chiếu, thăm Đài tưởng niệm Iwo Jima, Đại lộ Hiến Pháp, Nghĩa trang quốc gia Arlington, … Tất cả lướt qua màn hình trên nền lá quốc kỳ Mỹ phấp phơi tung bay. Những cú cắt cảnh, chuyển cảnh mượt mà kết hợp với góc máy rộng đem lại vẻ choáng ngợp trước một Washington hoa lệ. Cuối cùng, Smith dừng chân tại Đài tưởng niệm Lincoln. Và Abraham Lincoln, “ông ấy ở đó, nhìn thẳng vào anh khi anh bước lên những bậc thang dẫn vào bên trong”. Ông “ngồi đó như thể đang đợi ai đó tới”. Phía xa xa là tấm văn bia khắc bài Diễn văn Gettysburg, nơi một cậu bé đang bập bẹ đánh vần từng câu của bài diễn văn cho một cụ già nghe.

Tại đây, Lincoln cuối cùng cũng được gặp con người mình vẫn đợi chờ sau bao năm trời, một người “cố gắng nhân rộng tư tưởng của ông”, một người “thấu hiểu công việc của ông và lao vào nó”: Ngài Smith vừa tới Washington.

Cũng chính tại đây, Frank Capra đã gạt đi được tất cả những do dự, hạ được toàn bộ quyết tâm để thực hiện nên một trong những bộ phim xuất sắc nhất lịch sử điện ảnh về đạo đức, lý tưởng, về giá trị của mỗi cá nhân, nền dân chủ và tự do.

Poster
Áp phích phim. Ảnh: IMDb

Continue reading “Đôi lời về “Mr. Smith Goes to Washington”: ‘Nước Mỹ’ của Frank Capra”