Tháng Tư

Trong dòng những biến đổi, tôi muốn nắm bắt hết, những vươn mình thức giấc, những phai nhạt, lãng quên.

Trong dòng những chuyển động, tôi muốn ghi chép hết, những gặp gỡ, chia tay, những hội ngộ, ly biệt.

Trong dòng những bất động, tôi muốn vẽ lại hết, bầu trời đêm không một vì sao xa, phố tĩnh mịch không một ánh điện đường.

Trong dòng những lạc lối, tôi muốn đánh dấu hết, những ngã tư trước mặt hằng lưỡng lự, những giao lộ sau lưng hằng lao đao.

Trong tháng Tư của những ngày tuổi trẻ, tôi gửi lại một phần của tôi, nơi vui tươi tôi dành cho những người, trân trọng tôi dành cho những vật, tiếc nuối tôi dành cho những kỷ niệm đã chẳng còn thân thương.

Tháng Tư ấy, tôi những muốn kể lại, nhưng không phải bằng lời, cũng không phải bằng chữ, lại càng không phải bằng những láo nháo lác nhác phác thảo hay lủng củng lỉnh kỉnh ký họa.

À, thế rồi tôi nhận ra, tất cả những gì tôi cần làm chỉ là nhắm mắt lại…

Tháng Tư ấy, tôi sẽ sống lại một lần nữa, tất cả chỉ trong một thoáng chớp mắt, nhờ cái phi tuyến tính của thời gian, cái phi hiện thực của không gian nơi ký ức.

Ngồi đó, là bốn con người. Sáng đó, là vài ba ngọn đèn của phố không ngủ.

Nhớ đó, là yêu thương mù quáng. Quên đó, là tàn nhẫn vô biên.

Đẹp đẽ đó, là những cuốn phim đã nhuốm màu thời gian vẫn nằm yên chờ được phục chế, được chiêm ngưỡng, được trầm trồ; những cuốn phim vẫn bền bỉ sẵn lòng dắt tôi qua những vùng đất tách biệt mà song song, hư cấu mà thực thà, huyền hoặc mà chân phương. Những ánh trăng lừa nhưng không dối.

Ba mươi hai bộ phim, đủ mọi hỉ nộ ái ố cho ba mươi ngày ngập tràn những nhúc nhích, xê dịch của tôi.

Ba mươi hai bộ phim, đủ mặt tất cả những cái tên tầm cỡ nhất của loại hình nghệ thuật còn non tuổi đời này: Ford, Godard, Renoir, Vigo, De Sica, Mizoguchi, Bresson, Truffaut, Kiarostami, Chaplin, Eisenstein, Murnau, Keaton, Tati, v.v…

Thế nhưng trong số những vị ấy, chỉ có một người duy nhất thực sự làm bừng sáng tháng Tư u ám của tôi: Anthony Mann.
Và thêm một cái tên quen thuộc nữa: Jimmy Stewart.

Không, đó không phải là Winchester ’73, cũng không phải The Naked Spur đâu. Đó là The Man from Laramie.

Tháng Tư ấy, mọi thứ mới lại trở về cũ.

***

mv5bowe2zta5mjitmjbmmy00mzcyltk2m2itymuynmrizjm0y2e2xkeyxkfqcgdeqxvymti1ndq4nq-_v1_sy1000_cr006751000_al_
The Man from Laramie, Anthony Mann. Ảnh: IMDb

Trước khi nói đến Anthony Mann, có lẽ tôi sẽ bắt đầu bằng phong cách quen thuộc: ca ngợi Jimmy Stewart. Tôi có cảm giác rằng dù đi đến đâu trong địa hạt điện ảnh Hollywood cổ điển, tôi vẫn sẽ gặp lại Stewart. Ngày bé tôi hâm mộ Frank Capra và Alfred Hitchcock, Stewart gần như luôn là ngôi sao sáng nhất của khung hình. Khi tôi không còn quá sùng bái Capra, tôi chuyển hướng sang Ernst Lubitsch, đạo diễn mà Stewart chỉ hợp tác duy nhất trong The Shop Around the Corner. Trùng hợp thay, đó lại là tác phẩm mà tôi tin rằng đóng vai trò kiệt tác để đời của Lubitsch (tôi không nghĩ chọn ra một tác phẩm duy nhất để tôn vinh là một điều công bằng với Lubitsch, nhưng đây là bộ phim tôi yêu thích nhất). Rồi tôi bắt đầu nghiền ngẫm Kỷ nguyên vàng Hollywood, và tôi dành niềm ngưỡng mộ lớn lao cho John Ford. Ở thập niên ’60, Ford rất có cảm tình với Stewart. Hai trong số những bộ phim vĩ đại nhất của Ford được thủ vai chính bởi Stewart: Two Rode Together The Man Who Shot Liberty Valance. Và giờ đây, tôi có Anthony Mann.

Thật buồn vì ngày nay, trong cái nhìn về dòng phim viễn tây xưa, cái tên được biết đến rộng rãi nhất lại là Sergio Leone. Mann có lẽ xứng đáng có chỗ đứng ấy hơn, vì phim của Mann mang tất cả những nét kịch tính, bụi bặm và hoang dại của miền biên giới Mỹ nửa cuối thế kỷ XIX. Nếu tôi được lựa chọn thì Ford sẽ nghiễm nhiên là người sắm vai, tuy nhiên tôi hiểu phim của Ford không hoàn toàn đặc trưng cho những gì người ngày nay nghĩ về thể loại viễn tây. Với tôi, Ford là điện ảnh; những bộ phim viễn tây của ông không nên được xếp chung với bất kỳ một đạo diễn nào khác, chúng đứng tách biệt và chiếm cứ một vị thế riêng trong dòng lịch sử. Các nhà phê bình điện ảnh trên Cahiers du Cinéma (sau này trở thành những yếu nhân của Làn sóng mới) ngày ấy, đặc biệt là François Truffaut và Jean-Luc Godard, có thiên hướng so sánh Mann với Ford (Godard có cái nhìn toàn diện hơn, và ông khá công bằng với Ford). Tôi không cho rằng đó là một sự đối chiếu hợp lý, bởi Ford là kiểu đạo diễn “bảo thủ”, phong cách của ông không thực sự thỏa hiệp với sự thay đổi của thị hiếu khán giả. (Vô tình thay, khán giả thời nay có nhiều người vẫn có thể xem Ford một cách say mê, trong đó có tôi, cũng bởi phim của ông có giá trị vượt thời gian.) Dù đi qua nhiều thể loại nhưng, rất khác với Howard Hawks, Ford không thực sự tiếp xúc với film noir và screwball-comedy, vì giữa phong cách của ông với chúng không hề có sự giao thoa. Mann lại khác. Ông là một tên tuổi đáng chú ý của dòng film noir thập niên ’40. Sang thập niên ’50, Mann bắt đầu thành công với phim viễn tây. Điểm đáng chú ý trong các tác phẩm viễn tây của Mann là chất film noir không thể lẫn vào đâu được. Nói cách khác, Mann tiếp bước Ford trong sự phát triển của phim viễn tây (Ford hồi sinh chúng, rồi ông đi theo con đường riêng của mình) và hoàn thiện thể loại này. Lẽ dĩ nhiên, giờ đây, cả Mann lẫn Ford dường như đều không được đối xử công bằng.

Tôi vẫn giữ nguyên ý kiến của mình rằng Jimmy Stewart là diễn viên của mọi thời đại. Stewart chưa bao giờ đóng vai xấu. Người ta thường nói ông lóng ngóng, vụng về, và “quá tốt”. Mann đã loại Stewart ra khỏi một kiệt tác của mình là Man of the West vì cho rằng Stewart sẽ khiến nhân vật Link Jones có phần yếu mềm (lý do chính xác hơn có lẽ là mâu thuẫn giữa Mann và Stewart lúc bấy giờ). Tuy nhiên xét cho cùng, dù phim không giống đời nhưng triết lý làm phim lại rất giống triết lý cuộc đời: Làm người tốt luôn khó hơn làm người xấu rất nhiều. Chính Mann chứ không ai khác đã cùng Stewart khẳng định điều đó một cách chắc nịch.

The Man from Laramie là một chương kết hoàn chỉnh cho chuỗi 5 bộ phim viễn tây ghi danh Mann – Stewart, trong đó để chọn ra tác phẩm xuất sắc nhất cũng là một điều không dễ dàng. Ở bộ phim này, nhân vật của Stewart cho tôi thấy sự cân bằng tuyệt vời giữa tốt và xấu. Anh luôn khát khao trả thù nhưng không bao giờ cho phép mình đánh mất lý trí: “Thù hận không thích hợp với một người như anh.”

Các tác phẩm của Mann là đỉnh cao của location shooting, hay như Alexander Payne nhận định, chúng cho người xem một “cảm thức về địa điểm” (sense of location). Mann có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử đưa các yếu tố ngoại cảnh dung hòa trọn vẹn với tình tiết phim. Trong Side Street – một tác phẩm film noir, ông đã thực hiện rất tốt điều đó với khung cảnh đô thị và những tòa nhà cao tầng. Sang đến thể loại viễn tây, Mann biến nó thành đặc trưng của mình, khiến thiên nhiên trở nên sống động hơn bao giờ hết. Tôi chọn The Man from Laramie làm điển hình cho những thành tựu đó của ông. Bố cục và màu sắc trong từng cảnh quay đều được dàn xếp rất kỹ lưỡng nhằm làm nổi bật những đặc tính của thiên nhiên và sự cô độc của con người trong đó. Cảnh phim mở đầu là một ví dụ tiêu biểu:

The.Man.from.Laramie.1955.720p.BluRay.DD5.1.x264-TayTO.mkv_snapshot_00.01.43.792

Bầu trời, rừng cây phía xa và mặt đất gần máy quay chiếm ba khoảng không gian đều nhau trong khung hình với những tông màu rất đơn sơ. Đoàn người với ngựa và xe vạch một vạch dài tiến vào chính giữa như một sự khai phá thiên nhiên, nhưng lại càng cho thấy tầm vóc bé nhỏ của mình. Các tông màu ấm cúng hơn dần xuất hiện khi họ đi vào thị trấn.

The Man from Laramie, nhìn rộng ra, chính là bộ phim về một hành trình cô độc khi con người liên tục được đặt giữa thiên nhiên hoang dã, hiu quạnh. Sự đơn độc ấy có thể nhìn thấy rõ trong nhân vật Will Lockhart. Đây chính là mối liên kết với bản thân mình mà tôi luôn cảm thấy trong suốt thời lượng bộ phim. Nhưng tôi đặc biệt ấn tượng với niềm tự hào về nơi xuất thân của mình trong nhân vật này. Dù ta được biết Will Lockhart là một Đại úy, nhưng mãi đến cuối phim anh mới sử dụng danh xưng đó. Trước đó khi được hỏi “Vậy thì anh là gì?”, anh một mực nói: “Tôi tới từ Laramie”. Địa danh ấy không hề xuất hiện trong phim, tuy nhiên nó là thứ duy nhất xác định con người này, và nó vang lên một cách hùng hồn trong lời nói của anh như một niềm kiêu hãnh tột đỉnh. Đó có lẽ là lý do tình yêu của tôi với dòng phim về miền đất của những chàng cao bồi này cứ ngày một lớn dần lên.

Tháng Tư ấy, tôi mơ về một Laramie của riêng tôi. Tôi mơ rằng mình sẽ gặp được một ai đó để khi từ biệt có thể nói, như thể trong một bài hát của Bob Dylan, câu: “Chừng nào có đi về miền Đông, cô sẽ đi ngang qua Laramie. Nếu cô hỏi tên Đại úy Lockhart, ai cũng có thể chỉ cho cô chỗ tìm tôi.”

Leave a comment