Có những mùa thu

“ta ngồi trên bến, con tàu trắng
sông rộng mây mờ chân núi xanh
như một người quen xa vắng mãi
anh ngỡ quên, thu bỗng trở về”

(Thu, Lưu Quang Vũ)

Thu của tôi chưa bao giờ có lá vàng. Tôi vẫn luôn ngỡ ngàng khi thấy các thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, các nhà làm phim, các nhiếp ảnh gia,… có thể sáng tạo nên những khung cảnh thu ngập tràn lá vàng tươi phủ kín những con đường, những cánh rừng hay đôi bờ sông đến như thế. Thu của tôi họa chăng chỉ có vài chiếc lá úa nằm cong queo bên vệ đường, có thứ nắng vàng giòn, thứ gió se se lạnh thổi trong mỗi buổi chiều muộn đạp xe trên đường về nhà. Cái nắng của thu không sáng bừng như cái nắng hạ; và trong tâm tưởng tôi, hạ mang màu xanh lam của cây lá điểm xuyết màu trắng của bầu trời nhìn qua những tán cây, còn thu mang một màu vàng ươm, chỉ của nắng thôi; đó không nhất thiết (và cũng chẳng phải) là màu của đất trời, đó đơn giản là những thứ nhãn dán mà tôi gắn cho các mùa để xếp vào trong suy tưởng của mình, mỗi mùa một màu, và vì thế, một vẻ.

Tôi từng không tin vào thu; khi còn học phổ thông tôi đã từng viết những câu như thế này (mà phải thú thực là giờ khi lục tìm lại tôi phải ôm bụng cười lúc đọc đến dòng cuối cùng)

“Cái lạnh đầu mùa nỡ vội vàng?
Chút mây, chút gió vẫn miên man
Phai dần tia nắng kêu đông tới
Lất phất giọt mưa đuổi hạ tan
Buổi sớm đen thui như đổ mực
Hoàng hôn rực đỏ tựa tàn than
Đạp xe đường phố chiều hôm muộn
Không bạc, chẳng tiền cũng thật sang!”

trong một ngày trở gió cuối thu trên đường đi học về. Chỉ có hạ và đông, thu tuyệt nhiên không tồn tại trong thế giới quan của tôi ngày ấy. Không phải tôi không biết đến thu, nhưng tôi không cho nó là một phần của khí hậu, của trời đất, của vạn vật. Xuân cũng vậy. Những mùa chuyển tiếp ngày trước với tôi luôn chỉ có trong sách vở và báo đài. Cái sự nhận thức rằng thu và xuân sẽ khoác tấm áo mới cho thiên nhiên khi mà nắng không còn trắng và sớm không còn đen nữa mới đây đã đến với tôi, nhưng không phải từ những quan sát về những biến chuyển hết sức nhỏ nhẹ, tinh tế của hoa cỏ, nắng mưa, mà đến từ những câu chuyện, luôn là vậy.

Bởi chưng, tôi có bao giờ thực sự nhìn thấy?

Akibiyori (1960)
Akibiyori (1960), Ozu Yasujirō. Ảnh: Shochiku

Khai giảng, tất nhiên rồi. Nhắc đến mùa thu của những cô cậu học trò mà không nhắc đến lễ tựu trường thì chẳng khác gì nhắc đến trung thu mà không có chiếc đèn lồng. Tôi cũng đã từng trải qua thời kỳ ấy, như bao người thôi, và dù thật khó cho tôi để có thể tự hào kể lại rằng mình từng có một tuổi học trò đẹp đẽ, thì tôi vẫn có những kỷ niệm khó phai về ngày khai trường.

Khai giảng những năm cấp Một và cấp Hai của tôi không gắn với thu (mặc cho chúng diễn ra vào mùa thu) cũng bởi thiếu đi cái nắng vàng đặc trưng kia. Sân trường tiểu học và trung học cơ sở của tôi khá nhỏ, và vào những ngày thu đầu tháng Chín đó thì thường là trời sẽ nắng hoặc sẽ mưa, nên luôn có vài chiếc bạt lớn được căng phía trên những dãy phòng học, che kín sân trường, vô tình chăng một màu u tối vào ký ức của tôi về chúng. Ấy thế nhưng cái màu u tối đó chưa bao giờ để lại trong tôi những kỷ niệm buồn; nó chỉ phác họa cái nền để gợi lên những hình dung tiếp theo của tôi về khung cảnh của những buổi lễ ấy (thường bắt đầu từ khá sớm nên bầu trời không mấy sáng sủa), với chiếc cờ giấy cán đũa, chiếc mũ ca-nô, con đường đến trường trải ra trước tầm mắt tôi từ yên sau xe đạp của bố,… cùng hồi trống trường đầu tiên. Không thứ gì riêng lẻ khiến tôi thực sự bồi hồi khi nhớ lại, nếu chúng không được đặt trong bức tranh tổng thể kia, bắt đầu từ cái màu u tối nọ, mà vô hình chung, không phải là một bức tranh thu.

Khai giảng những năm cấp Ba lại khác. Bản thân những cái ngày mùng 5 (hoặc mùng 4) tháng Chín của ba năm cấp Ba không da diết in hằn trong ký ức tôi. Chúng vẫn có sắc màu thu (ngoại trừ năm lớp Mười trời mưa như muốn trút hết nước còn đọng lại của mùa hè), nhưng không thu bằng những ngày tập dượt chuẩn bị cho khai giảng. Tôi có vinh hạnh được học trong những lớp học mà cả ba năm đều được chọn diễu hành trên sân trường. Và nếu như năm lớp Mười một không phải đi đều, năm lớp Mười hai cuối cấp được ưu ái cho tập ít đi, thì năm lớp Mười thật sự là một màn tra tấn thể xác đón chào những học sinh mới của trường. Trong vòng hai tuần trước buổi lễ chính thức, tất cả các buổi chiều chúng tôi đều phải tập trung từ 2 giờ và đi đều quanh trường, hết vòng này tới vòng khác, giữa cái nắng tưởng như có thể khiến bầu trời cao rộng nứt toang hoác. Đến giờ nhớ lại dường như tôi vẫn còn cảm nhận rõ cái cảm giác uể oải mỗi khi phải bước ra khỏi nhà sau buổi trưa, những giọt mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, cổ họng khô khốc và hai bàn chân nặng trĩu trong đôi giày chật cứng. Tất cả có lẽ không mệt mỏi đến thế nếu như tôi không có cái tật xấu là thức đêm quá muộn. Nhưng đây có thể nói là một cảm thức quá rõ rệt về mùa thu, bởi tôi chưa bao giờ đắm mình vào thiên nhiên, đất trời thu nhiều đến như vậy. (Tôi là một đứa trẻ lớn lên ở thành thị, chưa từng biết đến cuộc sống thôn quê, tuy nhiên đừng cho rằng thành thị thì không có thiên nhiên nhé!) Hai năm sau đó, buổi lễ khai giảng vẫn diễn ra với nghi thức gần như tương tự, và lúc này, một phần vì không phải tập luyện nhiều như năm đầu tiên, một phần vì đã quen với việc tập dượt nên những kỷ niệm về những chiều hôm lộng gió se trên con đường về nhà chiếm chỗ những buổi tập đi đều trong hồi tưởng của tôi về chúng. Có nắng vàng, có gió se, nhưng khi ấy tôi vẫn chưa nhìn thấy thu.

Sanma no aji (1962)_1
Sanma no aji (1962), Ozu Yasujirō. Ảnh: The Criterion Collection

Thu là mùa chuyển tiếp giữa hạ với đông, là gạch nối giữa cái nóng và cái lạnh. Nhưng với tôi, thu có lẽ là những gì còn sót lại của hạ nhiều hơn. Tôi gặp thầy giáo dạy đàn ngày trước của tôi vào một mùa hè; năm ấy tôi lên lớp Chín. Sau ba tháng tiếp xúc với cây đàn dưới sự chỉ bảo của thầy, tôi quyết tâm học chơi đàn một cách nghiêm túc. Nhưng rồi, nếu như mùa hè của tôi tràn trề nhiệt huyết và hy vọng bao nhiêu, thì thu sang lại đem đến cho tôi những chán chường và mỏi mệt bấy nhiêu. Những bài học nặng nề trên lớp học văn hóa, những đêm thức trắng không vì một mục đích cụ thể nào khiến tôi gần như bỏ bê tập luyện và không còn hứng thú với cây đàn như trước nữa. Sau nhiều tuần xin phép thầy nghỉ vì không thể đến học, tôi quyết định dừng học cho đến khi thi xong kỳ thi chuyển cấp. Hè năm sau, tôi quay lại học thầy, và vì không còn điều gì vướng bận nữa, tình yêu với cây đàn lại trở lại trong tôi. Thế nhưng, nó cũng không thể trụ vững được lâu, khi chương trình học cấp Ba dần trở nên quá sức đối với tôi. Lần này, tôi cố gắng được đến cuối thu rồi lại tiếp tục xin phép thầy nghỉ vài buổi, để rồi sang đông thì gần như ngừng học hoàn toàn. Tất nhiên, mùa hè sau đó, tôi lại tiếp tục, và kết quả cũng chẳng khác gì nhiều, vẫn hứng khởi vào hè và rệu rã vào thu.

Thế rồi, tôi nhận ra ba năm học cấp Ba của tôi kết thúc mà tôi chẳng bao giờ có đủ dũng cảm để trở lại học thầy nữa. Những mùa thu ấy vẫn mãi dang dở như thế, bản nhạc cuối cùng thầy giao tôi vẫn mãi chưa thể chơi thuần thục. Và những buổi trưa chiều lưng áo ướt đẫm mồ hôi đeo cây đàn trên vai đạp xe đến nhà thầy trong nắng hanh, con ngõ nhỏ nơi vợ thầy vẫn thường dắt xe ra và tiễn tôi về, con đường dài quanh co hiu hiu gió dẫn qua khu chợ giờ tan tầm nhộn nhịp tiếng còi xe và thơm nức mùi thức ăn trong ánh mặt trời lưu luyến đã gần như khuất dạng sau những ngôi nhà, giờ chỉ còn là những hình ảnh từ cuộn phim ký ức đã loang lổ vết tích thời gian. Và cả thầy nữa, người thầy đáng kính nhất trong cuộc đời tôi, người khi ấy đã quá thất thập và không còn có thể tremolo (reo dây) mẫu cho tôi được, vì nó làm tay thầy đau, mà vẫn tâm huyết luyện cho tôi nhuần nhuyễn cái kỹ thuật khó bậc nhất này, người từng đặt rất nhiều kỳ vọng vào tôi, từng hy vọng có thể dạy tôi viết nhạc, biểu diễn đàn, người từng khuyên nhủ tôi: “Con nhớ rằng học đàn chỉ có 10% là thầy dạy, còn 90% còn lại là do sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của bản thân con!” (mà sau này tôi vẫn hay đùa với bạn tôi rằng “thế mà ông ấy vẫn lấy tiền 100%!”); tôi không bao giờ lấy được chút can đảm nào để đến thăm thầy nữa.

Vì cả cuộc đời tôi vốn luôn như vậy, là nỗi thất vọng tràn trề đối với những người xung quanh, những người đã tin tưởng đặt trọn niềm tin vào tôi. Như mùa thu kia, tôi luôn là tàn tích của những gì đã từng là tươi đẹp nhất.

Kohayagawa-ke no aki (1961)
Kohayagawa-ke no aki (1961), Ozu Yasujirō. Ảnh: Shochiku

Một mùa thu khác, mùa thu của năm lớp Bảy, năm học mà nếu ai đó sẵn lòng vui vẻ ngồi nghe những chuyện không đầu không đuôi của tôi thì sẽ được thấy tôi thao thao bất tuyệt cả ngày mà vẫn không hết thứ để nói. Năm lớp Bảy đó, để chọn ra quãng thời gian đáng nhớ nhất, chắc chắn tôi sẽ chọn mùa đông; bởi trong cái mùa đông ấy, tôi đã mãi mãi là một đứa trẻ con không bao giờ có thể lớn lên được nữa. Nhưng thu, trong hồi tưởng của tôi bây giờ, lại có một nét duyên dáng rất riêng, và là mùa thu tươi sáng nhất trong ký ức mới chớm hình thành của tôi về nó. Thu khi ấy thực sự là một cầu nối giữa đông và hè, là cầu nối cho tình bạn vô cùng đẹp đẽ mà tôi khó có thể tìm thấy lần thứ hai trong đời. Tất nhiên trước đó nó vẫn là những vết tích của một mùa hè tươi tắn, những vết tích méo mó, xiêu vẹo (do những hành động của tôi ngày đó gây nên), để lại trong tôi những cảm xúc tiêu cực, nhưng chính vì thế lại trở thành một chất xúc tác mạnh mẽ cho những điều tốt đẹp mà chỉ con mắt của một đứa trẻ sau này có thể nhìn ra. Lại là những buổi chiều đạp xe trên đường dưới cái nắng và cái gió thân quen, nhưng nắng sáng hơn, gió thoảng hơn, và con đường cũng rộng hơn. Đó là những chiều Chủ nhật đến chơi nhà người bạn mà tôi mới quen hồi hè trong một lần mít ướt ở lớp học thêm. Chúng tôi chưa từng học cùng nhau, chẳng có chung sở thích, nhà lại còn ở hai đầu thành phố (nhỏ thôi, nhưng trong cảm quan ngày ấy của tôi thì lại rất rộng). Và nếu không có những chiều thu cùng ngồi xem phim hoạt hình, nhai đá rôm rốp và nói chuyện gia đình, trường lớp của mỗi đứa trong ánh nắng xiên xiên và tiếng lá cây xào xạc ấy, chúng tôi đã chẳng thế có được tình bạn keo sơn kéo dài hơn 7 năm nay như vậy. Thu, ấy vậy mà, thân thương đến lạ kỳ!

Sanma no aji (1962)_2
Sanma no aji (1962), Ozu Yasujirō. Ảnh: The Criterion Collection

Từng ấy kỷ niệm vui có, buồn có vẫn không đủ sức đánh thức các giác quan của tôi nắm bắt được thu. Cho đến khi tôi được may mắn biết đến vị thi sĩ điện ảnh Ozu Yasujirō, vị đạo diễn của những giao thời, chuyển giao, và lại hay chăng, vào những ngày xuân. Dẫu kiến thức điện ảnh của tôi chỉ nằm trong giới hạn của những bài học vỡ lòng về quay phim, dựng phim, nhưng tôi vẫn tự tin phát biểu rằng: Trước khi tiếp xúc với Ozu, tôi gần như chưa biết đến điện ảnh, và khi đã tiếp xúc Ozu rồi, rất ít thứ với tôi còn có thể được coi là điện ảnh. Xem phim Ozu rồi, tôi chẳng còn quan tâm Andrei Tarkovsky “thể nghiệm” những gì trên cái phông nền siêu hình của mình, chẳng còn để ý Ingmar Bergman triển khai bao nhiêu khái niệm tâm phân học dưới những khung hình ám ảnh, dị dạng, chẳng còn đoái hoài xem Roberto Rossellini làm gì ở thời kỳ tân hiện thực Ý, hay Jean-Luc Godard loay hoay những gì với chiếc máy quay cầm tay và những cú dựng nhảy (jump cut) ở Làn sóng mới Pháp,… Ozu đem mùa thu đến cho tôi, không phải bằng những khung hình lung linh bất kể là đen trắng hay màu, mà bằng chính những câu chuyện. Dù đã theo dõi tương đối nhiều tác phẩm của ông, tôi vẫn không dám chắc rằng Ozu có thực sự muốn kể chuyện qua các bộ phim của mình hay không (không nói đến những bộ phim có nhan đề mang chữ “monogatari”, tức chuyện); tuy nhiên những câu chuyện được diễn giải bằng hình ảnh và lời thoại ấy đã thực sự thay đổi nhận thức của tôi, làm biến chuyển thứ cảm quan nhạt nhòa trước kia, dung hòa lòng tôi với những chuyển giao của cả thiên nhiên lẫn lòng người; và lần đầu tiên, tôi biết đến xuân, nhờ “Banshun” (Mùa xuân chín), đến thu, nhờ “Sanma no aji” (Mùi vị cá thu đao). Và cũng lần đầu tiên, tôi tìm được một thế giới mà một kẻ thất bại như tôi có chỗ trong đó. Ozu nằm trong số ít những đạo diễn có thể kiến tạo nên thế giới của riêng mình, mà phần nhiều đều là những người tôi vô cùng ngưỡng mộ, có thể kể đến John Ford, Ernst Lubitsch, Alfred Hitchcock hay (có thể) cả Frank Capra… Thế giới của Ozu khó nhìn ra hơn những vị kia, và thường bị nhầm lẫn trong một sự đánh đồng với một đất nước Nhật Bản, đặc biệt là thành phố Tōkyō, hoài cổ.

Ozu không phơi bày mà cũng chẳng che đậy, nhắc nhở hết mà cũng dung thứ hết. Tôi như tìm thấy bản thân mình trong thế giới ấy của ông, trong những nhân vật mà ông chia nhỏ và rải rắc bản ngã của chính mình vào đó.

Ozu không chỉ làm phim về những chuyển giao, về những thời điểm giao mùa, tôi đã từng lầm tưởng như vậy, cho đến khi nhìn thấy Chishū Ryū bước đi trong chiếc áo măng-tô giữa trời truyết trong “Tōkyō boshoku” (Chạng vạng Tōkyō). Và như thế, ông nhẹ nhàng xoay chuyển nhận thức của tôi nhưng vẫn giữ nguyên những gì vốn có đã từng khiến tôi yêu biết bao cuộc sống và con người xung quanh.

Ozu dạy tôi cách sống. Ozu là mùa thu sống động nhất trong tâm tưởng tôi.

Cứ thế, tôi biết, có những mùa thu đã đi xa, có những mùa thu còn ở lại, để nhung nhớ, đợi chờ và khát khao. Những mùa thu không một chiếc lá vàng rơi…

Leave a comment